47 lượt xem

150 CÂU HỎI VỀ DINH DƯỠNG CỦA BÉ (P1)

1. Vì sao nói dinh dưỡng là nền tảng vật chất cho sự sinh trưởng phát triển của trẻ nhỏ?

 Từ thời khắc nam nữ giao hợp, tinh trùng kết hợp với noãn tạo nên noãn bào thì một sinh mệnh mới ra đời. Từ đây, các cơ quan trong cơ thể của bé bắt đầu hình thành và ngày một hoàn thiện. Đây chính là sự sinh trưởng và phát triển. Xét từ góc độ khái niệm chất và lượng, sinh trưởng là tăng số lượng, từ nhỏ tới lớn, từ ít tới nhiều. Phát triển lại là hình thành và hoàn thiện chức năng, là đề cao chất.

Sinh trưởng phát triển dựa vào cái gì? Dựa vào việc không ngừng hấp thu các chất dinh dưỡng từ thức ăn bởi thức ăn và sức khỏe đều được tạo nên từ vật chất. Bởi vậy, dinh dưỡng là nền tảng vật chất cho sự sinh trưởng phát triển của trẻ. Thiếu dinh dưỡng sẽ khiến trẻ sinh trưởng phát triển chậm hoặc trì trệ. Thừa dinh dưỡng sẽ dẫn tới hiện tượng béo phì hoặc gây ra bệnh tật khi trưởng thành. Bệnh sớm phát ra như huyết áp cao, bệnh về tim, tiểu đường. Đồng thời, dinh dưỡng còn là nền tảng vật chất cho sức khỏe của cả đời người.

2. Vì sao dinh dưỡng ở trẻ nhỏ quan trọng?

Dinh dưỡng có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đối với sự sinh trưởng phát triển ở trẻ nhỏ. Dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển cơ thể và trí tuệ ở trẻ nhỏ mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển sức khỏe sau này. Trong thời kì sơ sinh và trẻ nhỏ, đa phần chức năng của các bộ phận ở trẻ chưa phát triển hoàn thiện – rơi vào giai đoạn “có mà chưa hoàn thiện, đầy đủ mà chưa mạnh”.

Giai đoạn này trẻ phát triển rất nhanh. Vì vậy, yêu cầu đối với dinh dưỡng cũng cao, thực đơn phải đầy đủ, hợp lý. Chức năng tiêu hóa hấp thụ của trẻ còn yếu, chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể gây tổn thương  tì vị. Điều này khiến tiêu hóa không tốt ảnh hưởng tới hấp thụ dinh dưỡng. Chính vì thế, khi lên thực đơn cho trẻ, đòi hỏi cha mẹ phải có phương pháp, sự quan tâm chăm sóc đặc biệt và cả sự chọn lựa đúng đắn.

3. Dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có ảnh hưởng gì tới sự sinh trưởng phát triển?

Dinh dưỡng chính là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Trong giai đoạn đầu đời, sức đề kháng ở trẻ còn yếu và đây cũng chính là giai đoạn hoàn thiện quá trình phát triển của các cơ quan. Chính vì vậy, trẻ cần được bổ sung nguồn dinh dưỡng đầy đủ, cung cấp các dưỡng chất thiết yếu, chất lượng cao để dễ hấp thụ.

Chế độ dinh dưỡng khoa học sẽ ảnh hưởng rõ rệt lên sự phát triển thể chất và trí não của trẻ. Dưỡng chất đầy đủ sẽ mang đến nguồn năng lượng dồi dào cho thể chất và trí não, đây là tác nhân quan trọng giúp trẻ đạt được các chỉ số phát triển tối ưu. Nhờ nguồn dinh dưỡng đầy đủ, trẻ có thể phát triển tối ưu về thể chất, khả năng trí tuệ, nhận thức, khả năng bộc lộ cảm xúc, xây dựng các mối quan hệ xã hội. Đặc biệt là trong giai đoạn đầu đời, trẻ tăng trưởng với tốc độ rất nhanh. Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ tính theo trọng lượng cơ thể cao hơn so với người lớn, bên cạnh đó sức khỏe của trẻ có hạn, khả năng hấp thu và tiêu hoá chưa thật tốt. Vì thế các thiếu sót trong nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ có thể dẫn đến ảnh hưởng phát triển toàn diện và có thể tác động lâu dài về sau.

4. Dinh dưỡng của người mẹ có ảnh hưởng gì tới sự phát triển của thai nhi?

Dinh dưỡng của người mẹ và sự phát triển của thai nhi có mối quan hệ mật thiết với nhau. Các chất dinh dưỡng cần thiết cho thai nhi hoàn toàn do cơ thể người mẹ cung cấp. Tình trạng dinh dưỡng của người mẹ quyết định tình trạng dinh dưỡng của thai nhi. Người mẹ hấp | thu các chất dinh dưỡng bằng việc ăn uống, qua tiêu hóa, hấp thu vào máu của cơ thể mẹ, qua cuống rốn đưa tới thai nhi, được coi là nguồn nguyên liệu cho thai nhi sinh trưởng phát triển. Sự hình thành và phát triển của thể trọng, chiều dài cơ thể, các cơ quan của thai nhi đều có mối liên hệ mật thiết với việc cung cấp dinh dưỡng của người mẹ.

5. Chất béo có tác dụng gì trong dinh dưỡng của trẻ nhỏ?

Các loại chất béo (còn gọi chung là mỡ) như cholesterol, phospholipid, triglycerides là một trong những chất dinh dưỡng chính cần thiết cho cơ thể người.

Chất béo còn là chất chính cấu tạo tế bào, thúc đẩy sự phát triển sinh trưởng của trẻ nhỏ, là chất giúp cơ thể trẻ hấp thụ các vitamin hòa tan trong mỡ. Ngoài ra mỡ còn có thể làm tăng mùi vị thơm ngon của thức ăn.

Chất béo

  • Cấu tạo thành phần cơ thể người
  • Cung cấp năng lượng
  • Cấu thành hoocmon duy trì chức năng sinh lý
  • Vật dẫn vitamin hòa tan mỡ
  • Mỡ đặc biệt có thể giảm nguy cơ viên gan, thúc đẩy não phát triển
  • Bảo vệ nhiệt độ cơ thể Vài trò đặc biệt của Cholesterol
  • Bảo vệ gan

6. Đường có chức năng gì trong dinh dưỡng của trẻ nhỏ?

  1. Sản sinh nhiệt năng. Mỗi gam đường có thể sinh ra 17kJ calo.
  2. Cấu tạo cơ thể. Mỗi tế bào cơ thể đều chứa đường, hàm lượng từ 2 – 10%.
  3. Tác dụng bảo vệ gan, nhuận tràng và tham gia oxy hóa với mỡ, làm tiêu hao protein.
  4. Có tác dụng giải độc.

7. Cho trẻ ăn nhiều đường có hại không?

Ăn nhiều đường không hề có lợi cho sức khỏe của trẻ. Đường là do tinh bột chuyển hóa thành. Quá trình chuyển hóa từ tinh bột thành đường hầu như toàn bộ vitamin B1 trong tinh bột đều bị phá hỏng. Sauk hi đường vào cơ thể người, do không có đủ vitamin B1 nên sinh ra axit axetic tồn tại trong máu, dẫn tới kích thích hệ thống thần kinh trung ương và hệ thống tâm huyết quản. Hiện tượng thường thấy là mệt mỏi, giảm ham muốn ăn uống.

Ngoài ra, ăn nhiều đường dễ bị sâu răng, do khoang miệng là môi trường nhiều vi khuẩn.Vi khuẩn có thể sinh sôi và hình thành nên một số muối hữu cơ và men. Đặc biệt là vi khuẩn que axit lactic sản sinh ra một lượng lớn axit sữa, tác dụng trực tiếp lên răng, khiến răng mất canxi, trở nên mềm. Các loại men có thể hòa tan protein tong tổ chức răng, đồng thời dưới tác dụng của cả axit và men, độ cứng và kết cấu của răng dễ bị phá hỏng, sẽ gây ra sâu răng.

Do trẻ ăn nhiều đường nên ảnh hưởng tới mong muốn được ăn. Protein và mỡ cũng hấp thụ không đủ, có thể dẫn tới bắp thịt nhão, bị phù, sức đề kháng thấp, cơ thể dễ nhiễm bệnh.

Ăn quá nhiều đường, ngoài những ảnh hưởng đối với cơ thể như trên, còn có thể làm tăng lượng đường trong máu, làm giảm áp lực thẩm thấu của dịch thể, khiến nước trong mắt thẩm thấu vào thủy tinh thể, làm thủy tinh thể biến hình, độ chiết quang của mắt tăng mạnh, dẫn tới cận thị. Ngoài ra,ăn quá nhiều đường, có thể làm tiêu hao các chất mang tính kiềm trong cơ thể, đặc biệt là canxi, crôm. Đây đều là nhận tố dẫn đến cận thị.

Do vậy, để trẻ phát triển khỏe mạnh, người lớn không nên cho trẻ ăn quá nhiều đường.

8. Khoáng chất là gì? Có bao nhiêu khoáng chất cần thiết?

Khoáng chất là chỉ muối vô cơ, còn được gọi là nguyên tố vô cơ, bao gồm nguyên tố thường lượng và nguyên tố vi lượng.

Có hơn 20 loại khoáng chất (tức là nguyên tố vô cơ) cần thiết cho cơ thể người, chiếm 4 – 5% thể trọng của con người, trong đó có 7 loại hàm lượng tương đối nhiều (hơn 5kg) là canxi, phốt pho, magie, kali, natri, clo, lưu huỳnh.

9. Vitamin là gì? Có mấy loại vitamin?

Vitamin là loại hợp chất hữu cơ cần thiết để duy trì quá trình sống của cơ thể, nói một cách đơn giản “thiếu vitamin cơ thể sẽ mắc bệnh”. Vitamin tồn tại trong thức ăn, cơ thể hầu như không thể tự tổng hợp được. Vitamin không trực tiếp cấu tạo nên co thể và không cung cấp năng lượng, nhưng mỗi vitamin lại có chức năng đặc thù riêng của nó. Do vậy chúng là chất dinh dưỡng không thể thiếu.

Căn cứ vào tính hòa tan của vitamin mà chia thành hai loại: vitamin hòa tan trong chất béo và vitamin hòa tan trong nước. Vitamin hòa tan trong chất béo có vitamin A, D, E, K…

Vitamin hòa tan trong nước có vitamin B1, B2, B6, B12, C, axit folic, axit pantothenic, axit nicotinic, choline…

10. Vì sao cơ thể trẻ không thể thiếu vitamin?

Vitamin đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình sinh trưởng phát triển của trẻ. Các nhà khoa học đã chứng minh tác dụng quan trọng của vitamin trong việc chống lão hóa, phòng và chống ung thư, phòng và chữa bệnh tâm huyết quản và các bệnh liên quan đến hệ thống thần kinh. Do vậy, vitamin có đồng thời vừa là dinh dưỡng và vừa là thuốc. Đây là chất dinh dưỡng không thể thiếu đối với cơ thể, Là chất dinh dưỡng cần thiết để duy trì sự tồn tại của cơ thể.

11. Chất xơ là gì? Chất xơ có tác dụng gì?

Chất xơ là chất bã thức ăn còn lại sau khi được tiêu hóa, gồm các chất tạo thành vách tế bào (cellulose, hemicellulose, pectin và lignin) và các chất dự trữ, bài tiết bên trong tế bào (gôm, nhầy). HIện nay, các chat sáp, cutin, glycoprotein (chất đạm cấu tạo vách tế bào không tiêu hóa được) cũng được coi là chất xơ. Có hai loại chất xơ – loại tan được và không tan được.

Chất xơ có một số tác dụng sau:

– Tăng cường chuyển động bình thường của ruột và ngăn ngừa táo bón.

– Gia tăng sự thải trừ chất độc qua ruột kết.

– Bằng cách giữ độ pH tối ưu trong đường ruột, chất xơ không tan giúp ngăn ngừa vi khuẩn gây bệnh ung thư đường ruột.

– Chất xơ tan được kết hợp với axit béo, làm chậm thời gian làm rỗng dạ dày, và làm giảm lượng đường được háp thu vào cơ thể.

– Làm giảm lượng cholesterol, đặc biệt là LDL (cholesterol xấu).

– Điều hòa lượng đường hấp thu vào cơ thể, điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với người bị tiểu đường và hội chứng chuyển hóa.

12. Tác dụng dinh dưỡng của nước là gì?

Nước là một loại chất dinh dưỡng tham gia trực tiếp vào quá trình trao đổi chất, thúc đẩy các hoạt động sinh lý và phản ứng sinh học của cơ thể. Nước là bộ phận cấu thành quan trọng để cấu tạo cơ thể. Nước là vật dẫn và chất hòa tan các loại chất dinh dưỡng và tham gia quá trình trao đổi chất. Nước tốt cho da, Khớp xương, điều tiết nhiệt độ cơ thể. Hấp thu nước không đủ hoặc để mất quá nhiều có thể làm cơ thể mất nước.

Nếu mất nước quá 5% thể trọng sẽ gây rối loạn chức năng cơ thể; mất 10% có thể cảm thấy khát nước, ít tiểu; mất trên 20% thể trọng sẽ khiến tâm tư buồn bực, mắt thâm, da mất tính đàn hồi, toàn thân mệt mỏi, nhiệt độ và mạch đập tăng, huyết áp giảm. Nếu tình trạng thiếu nước kéo dài mà không có sự bổ sung hoặc khi mất quá 20% thể trọng sẽ dẫn tới tử vong.

13. Thế nào là bữa ăn cân bằng?

Bữa ăn cân bằng là bữa ăn bảo đảm có thể cung cấp cho cơ thể đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết để đạt được mục đích dinh dưỡng hợp lý.

Một bữa ăn cân bằng nhất thiết phải có các yếu tố:

1.Thực phẩm đa dạng: kết hợp cả thức ăn thô và xơ.

2. Tỉ lệ cá loại thức ăn hợp lý: Tỷ lệ giữa protein, chất béo, chất đường tốt nhất là 12 – 15%, 25 – 30%, 55 – 60%.

3. Mỗi bữa ăn đủ lượng thức ăn.

4. Chế biến hợp lý, kết hợp thực phẩm thô – xơ, kết hợp mặn – ngọt, kết hợp khô – loãng, kết hợp thức ăn động – thực vật. Khi chế biến cần chú ý đến màu sắc, hương, vị của thức ăn, để vừa ngon miệng lại giàu dinh dưỡng.

14. Nguyên tắc cơ bản của dinh dưỡng trẻ nhỏ là gì?

Nguyên tắc trong dinh dưỡng cho trẻ nhỏ là thực hiện phương châm 6 chữ: Toàn diện, cân bằng, đủ lượng. Toàn diện chính là đầy đủ, bằng mọi khả năng khiến trẻ có đầy đủ các chất dinh dưỡng thông qua thực phẩm đa chủng đa dạng; Cân bằng tức là cân đối, khiến 50 chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể ở trạng thái cân bằng dựa theo chất và lượng nhất định, không thể thiếu cũng không thể thừa.

Đủ lượng là chỉ số lượng thích hợp, vừa có thể thỏa mãn nhu cầu sống lại vừa có thể đảm bảo yêu cầu sinh trưởng phát triển. Cung cấp theo đúng nhu cầu tức là đủ lượng, lượng cung cấp ở đây là lượng hấp thu thực tế.

15. Vì sao trẻ thiếu dinh dưỡng dễ mắc các bệnh truyền nhiễm?

Chúng ta thường thấy, trẻ thiếu máu, suy dinh dưỡng thường mắc các bệnh truyền nhiễm như cảm cúm, ỉa chảy… Những đứa trẻ này không chỉ dễ mắc bệnh mà bệnh còn kéo dài, bệnh nặng, tỉ lệ chết do bị bệnh cao. Đó là vì thiếu dinh dưỡng khiến chức năng miễn dịch của trẻ giảm, khiến khả năng chống lại các bệnh bên ngoài kém.

16. Vì sao thiếu dinh dưỡng ảnh hưởng tới trí lực của trẻ?

Não phát triển bình thường là nền móng vật chất cho sự phát triển của trí lực, mà dinh dưỡng lại là nguồn năng lượng cho sự phát triển của trí não. Vì tế bào não trong thời kì sinh trưởng và phát triển đều cần cung cấp đủ dinh dưỡng. Nguồn năng lượng cho tế bào não là đường gluco; sự hình thành vỏ tủy thần kinh cần có các loại chất béo; quá trình hoạt động trao đổi ở não, sự phát triển não, hoàn thiện chức năng não cần có sự tham gia của các chất dinh dưỡng như vitamin nhóm B, kẽm, sắt, canxi, phốt pho. Bởi vậy, dinh dưỡng thiếu sẽ khiến số lượng tế bào giảm, hình thái thu nhỏ, trọng lượng giảm, như vậy tất nhiên sẽ ảnh hưởng tới chúc năng của não ảnh hưởng tới trí lực của trẻ.

17. Thực phẩm nào có tác dụng bổ não cho trẻ?

Thực phẩm bổ não có tác dụng như sau đối với não: (1) Thúc đẩy kết cấu và chức năng não hoàn thiện. (2) Có thể trừ bỏ sạch những chất có hại gây cản trở cho việc phát huy chức năng bình thường của não. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 8 loại chất có tác dụng quan trọng đối với não: Mỡ, canxi, vitamin A, vitamin C, vitamin D, vitamin nhóm B, đường, protein. Hơn nữa, thực phẩm có chứa 8 loại chất dinh dưỡng này nhất thiết phải do con người tạo ra. Ví dụ như các loại thực phẩm sau: sữa tươi, trứng gà, các loại cá, lạc, kê, ngô, ớt, rau chân vịt, cam, quýt, dứa…

18. Vì sao không nên lạm dụng thuốc bổ cho trẻ?

Hiện nay trên thị trường bán rất nhiều loại thuốc bổ, thực phẩm chức năng, đánh trúng vào tâm lý của các cha mẹ: lúc nào cũng muốn con ăn nhiều, nhanh lên cân. Thực chất các loại thuốc đó là những vitaminvaf chất khoáng, cần thiết cho sự phát triển của bé.
Tuy nhiên, các loại chat này đều có trong các thực phẩm như gạo, mỳ, thịt, trứng, sữa hay trong các loại hoa quả tươi như cam, chuối, đu đủ, các loại rau xanh như rau cải xoong, rau mùng tơi, bắp cải…

Khi các bé lớn khỏe bình thường,các bé ăn uống đầy đủ, các bé đã được hấp thụ vào cơ thể tất cả những dưỡng chất đó thông qua các bữa ăn, không nhất thiết phải bổ sung thuốc bổ.
Chỉ khi nào bé không được chăm sóc đầy đủ, rối loạn tiêu hóa, mắt khô,… thì có nghĩa là bé có thể bị thiếu vitamin và khoáng chất. Lúc đó mới cần bổ sung các loại vitamin cho bé bằng nhiều cách, không nhất định là cứ phải dùng thuốc bổ.

19. Sữa non có tác dụng gì?

Sữa tiết ra vài ngày ngay sau khi sinh được gọi là sữa non , mặc dù lượng không nhiều nhưng nồng độ cao. Màu sắc giống như dầu ăn. So với sữa sau này thì trong sữa non hàm lượng kháng thể nhiều hơn, protein phong phú hơn, lượng mỡ tương đối thấp và có chứa các loại men, các khoáng chất cần thiết cho bé. Không có bất kì loại thực phẩm nào lại có thể cung cấp đủ những chất này. Hàm lượng lactoza, mỡ, vitamin hòa tan trong nước trong sữa non tương đối thấp.

Chất miễn dịch trong sữa non có thể bao phủ toàn bề mặt đường ruột còn non nớt của bé, ngăn chặn vi khuẩn, vi rút. Sữa non còn có tác dụng thúc đẩy sự bài tiết của các loại mỡ, giảm bớt nguy cơ mắc các bệnh vàng da. Bổi vậy, sữa non được mọi người gọi là mũi tiêm chủng miễn dịch đầu tiên. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho sự phát triển của bé.

20. Thế nào là nuôi con thành công bằng sữa mẹ?

Sớm tiếp xúc, sớm cho trẻ bú: Cho trẻ tiếp xúc với da mẹ, bú mẹ trong 30 phút ngay sau khi sinh.

Mẹ và bé ở cùng phòng: Sau khi trẻ sinh ra nên cho trẻ ở cùng mẹ.

Theo nhu cầu bú: Mỗi khi trẻ khóc hoặc người mẹ cảm thấy nên cho bú thì hãy cho trẻ bú. Không quy định thời gian và số lần.

Tư thế bú: Tư thế người mẹ thả lỏng, thoải mái, thực hiện được công thức 3 sát 1 đối: Ngực sát ngực, bụn sát bụng, cằm sát vú, chop mũi đối núm vú. Cố gắng để trẻ ở tư thế miệng ngậm sâu vào núm vú.

Trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 – 6 tháng đầu.

21. Vì sao nói sữa mẹ là thực phẩm lý tưởng nhất của trẻ sơ sinh?

a. Trước hết, sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất, thích hợp nhất đối với trẻ, vì trong sữa mẹ có đủ năng lượng và chất dinh dưỡng cần thiết như đạm, đường, mỡ, vitamin và muối khoáng với tỉ lệ thích hợp cho sự hấp thụ và phát triển cơ thể trẻ. Bú mẹ, trẻ sẽ lớn nhanh, phòng được suy dinh dưỡng.

b. Sữa mẹ là dịch thể sinh học tự nhiên chứa nhiều chất kháng khuẩn, tăng cường sức đề kháng cho trẻ. Trong sữa mẹ có những yếu tố quan trọng bảo vệ cơ thể mà không một thức ăn nào có thể thay thể được đó là: các globulin miễn dịch, chủ yếu là IgA có tác dụng bảo vệ cơ thể chống các bệnh đường ruột và bệnh nhiễm khuẩn. Do tác dụng kháng khuẩn của sữa mẹ nên trẻ được bú sữa mẹ sẽ ít mắc bệnh.

c. Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng. Trẻ bú mẹ ít bị dị ứng như ăn sữa bò.
Chính vì những lý do trên, sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ nhất là trẻ trong năm đầu của cuộc đời.

22. Vì sao nói sữa mẹ giúp trẻ giảm nguy cơ mắc bênh tim?

Trẻ được bú sữa mẹ khi lớn lên sẽ có lượng cholesterol thấp hơn so với các trẻ không bú sữa mẹ.
Đó là kết quả nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học. Nếu các bà mẹ cho con bú ít nhất trong vòng 6 tháng, đứa trẻ lớn lên sẽ tránh được một số bệnh tật, tiêu biểu là lượng cholesterol thấp làm giảm nguy cơ gây ra các bệnh về tim mạch.

Các nhà khóa học của Đại học London đã tiến hành nghiên cứu trên đối tượng là 17.000 người trưởng thành được bú sữa mẹ khi còn nhỏ. Kết quả cho thấy, lượng cholesterol ở những người này thấp hơn so với những người khác. Mặc dù ảnh hưởng tới từng cá nhân khác nhau, do còn bị tác động của các yếu tố khác nhưng theo thống kê gần đây, trẻ bú sữa mẹ nguy cơ mắc bệnh tim mạch tháp hơn so với các trẻ khác là 5%.

23. Vì sao nói sữa mẹ giúp trẻ giảm nguy cơ nhiễm nấm?

Các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm pha sữa mẹ với các loại sữa khác và nhận thấy rằng, ngay cả khi bị pha loãng với tỷ lệ 1/1.000, sữa mẹ vẫn chống lại được nhiề chủng nấm candida albicans nhờ khả năng ức chế sự tạo mầm của các chủng nấm này.
Hiện nay, các nhà nghiên cứu chưa xác đinh được cơ chế tác dụng của sữa mẹ len quá trình tạo mầm nấm. Tuy nhiên , phát hiện này đã cung cấp thêm một bằng chúng nữa về tác dụng của việc nuôi con bằng sữa mẹ.

24. Vì sao nói sữa mẹ giúp trẻ giảm nguy cơ mắc bệnh hen suyễn?

Những trẻ được bú sữa mẹ có tỷ lệ mắc bệnh như bệnh hen suyễn, bệnh chàm và dị ứng thức ăn thấp hơn các trẻ không được bú sữa mẹ. Các nhà khoa học khuyến khích các bà mẹ nên cho trẻ bú sữa mẹ trong 6 tháng đầu sau khi sinh nhằm chống bệnh hen suyễn, đặc biệt là đối với các gia đình có truyền thống mắc bệnh này.

25. Vì sao nói sữa mẹ giúp trẻ giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư?

Kết quả một cuộc nghiên cứu cho thấy những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ trong những năm đầu đời khi đến tuổi trưởng thành ít có nguy cơ bị ung thư.

Kết luận này đã bác bỏ quan niệm trước đây cho rằng việc bú sữa mẹ có thể tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư cho trẻ vì các tác nhân gây ung thư có thể được truyền từ người mẹ qua cho trẻ trong khi bú. Ngoài ra, bú sữa mẹ những bé gái sau này có thể giảm 12% nguy cơ ung thư ví trước thời kỳ mãn kinh.

26. Vì sao nói sữa mẹ giúp trẻ giảm nguy cơ mắc bệnh tai mũi họng?

Các nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng những trẻ được bú mẹ ít nhiễm bệnh hơn những trẻ không có được may mắn này. Sữa mẹ là nguồn năng lượng phong phú chứa lipit, protit, gluxit và các vitamin và khoáng chất. rất giàu nguồn kháng thể để bảo vệ đường hô hấp trong đó có bộ phận tai mũi họng và đường tiêu hóa của trẻ. Sữa mẹ là chất kháng khuẩn thông dụng trước khi phát sinh ra thuốc kháng sinh. Trong sữa mẹ chứa các yếu tố tăng trưởng giúp trẻ phát triển cùng với các yếu tố miễn dịch như kháng thể đặc hiệu có thể giúp chống virut, vi khuẩn, men và vi nấm gồm khoảng 20 kháng thể đặc hiệu chống E.Coli, salmonella, rotavirus, nấm candida, liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, H.pylori… Khi người mẹ cho con bú là hình thức vận chuyển đầy đủ miễn dịch thụ động chống nhiễm khuẩn vùng tai mũi họng từ mẹ sang con.

27. Vì sao nói sữa mẹ giúp trẻ thông minh hơn?

Theo kết quả nghiên cứu khoa học, những trẻ được bú sữa mẹ thường có chỉ số thông minh (IQ) lớn hơn trẻ khác 6,8 lần.

Sữa mẹ ngoài việc cung cấp sức đề kháng và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể trẻ còn có khả năng giúp trẻ phát triển chỉ số thông minh (IQ) vì trong sữa mẹ có chất enzyme giúp tăng cường khả năng nhận thức của trẻ.

28. Vì sao nói sữa mẹ giúp trẻ có hàm răng đẹp?

Qua một nghiên cứu được thưc hiện ở Italia trên 1.100 trẻ từ 3 – 5 tuổi đã cho thấy những trẻ được bú mẹ có hàm răng đẹp hơn những trẻ không bú mẹ.
Khi trẻ bú mẹ, các cơ lưỡi, môi, má hoạt động khác hơn khi bú bình, do đó răng sẽ phát triển tốt hơn bú bình.
Hơn nữa, sữa mẹ lại là nguồn dinh dưỡng phù hợp nhất cho trẻ, dễ tiêu hóa. Trong sữa mẹ có đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của trẻ, các chất này dễ hấp thụ qua tiêu hóa của trẻ. Sữa mẹ còn có các chất miễn dịch giúp cho trẻ chống lại bệnh tật.

29. Vì sao nói sữa mẹ giúp trẻ điều chỉnh hành vi và cảm xúc tốt hơn?

Theo một nghiên cứu được công bố, trẻ được nuôi bằng sữa mẹ thường có ít khả năng phải chịu các vấn đề về hành vi và sức khỏe tinh thần hơn những trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ.
Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng bố mẹ của trẻ được nuoi bằng sữa mẹ thường ít nhắc đến những vấn đề liên quan đến hành vi của trẻ. Và những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ ít phải đến gặp bác sĩ với các vấn đề về hành vi , đạo đức và ít phải chăm sóc về sức khỏe tinh thần.

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *