49 lượt xem

150 CÂU HỎI VỀ DINH DƯỠNG CỦA BÉ (P2)

30. Chọn mua sữa bột cần chú ý gì?

Chọn mua sữa bột cho trẻ cần chú ý 5 vấn đề sau.

1. Thành phần. Dù là sữa hộp hay sữa đóng túi thì trên bao bì của nó đều sẽ có những chú thích về thành phần, tính năng, đối tượng sử dụng, cách sử dụng. Ngoài việc xem xét về cân bằng dinh dưỡng, còn cần xem thành phần dinh dưỡng liệu có thỏa mãn nhu cầu của trẻ không. Đối với những thành phần đặc biệt được bổ sung vào trong sữa bột, cũng nên có giấy chứng nhận hoặc thông báo đã qua kiểm nghiệm.

2. Nhãn mác. Nhãn mác ngoài bao bì nên rõ ràng, bao gồm hạn sử dụng, ngày sản xuất, cách pha. Trách mua phải hàng giả mạo, nhãn mác không rõ ràng hoặc đã quá hạn sử dụng.

3. Bao bì. Chú ý xem bao bì có kín không, tức là hộp hoặc gói có bị “phồng”, hoặc hộp có bị “méo” không.

4. Hình dạng. Sau khi mở nắp hoặc bóc túi sữa xem liệu có hiện tượng vón cục hoặc có mùi khác lạ không. Nếu có hiện tượng này thì rất có thể là sản phẩm đã bị biến chất.

5. Nhãn hiệu. Trong điều kiện kinh tế cho phép, cố gắng chọn những loại sữa bột có nhãn hiệu nổi tiếng. Thông thường các nhà sản xuất sữa bột có nhãn hiệu này đều có dịch vụ bán hàng và tư vấn chuyên nghiệp.

31. Trẻ bú bình mà dị ứng với sữa bò thì phải làm thế nào?

Đối với trẻ thiếu sữa mẹ, sữa bò là thực phẩm thay thế sữa mẹ tốt nhất, cũng là thực phẩm thường thấy nhất và được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, có trẻ sau khi uống sữa bò bị nôn, tiêu chảy, xuất hiện hiện tượng nổi mề đay, thậm chí thở khò khè. Nếu trẻ thực sự mẫn cảm với sữa bò thì không nên cho trẻ tiếp tục uống sữa mà nên thay thế bằng các sản phẩm thay thế sữa khác như sữa dê, sữa bột thay thế, bánh sữa.

32. Trường hợp nào không nên cho trẻ bú?

1. Mẹ mắc phải các bệnh truyền nhiễm.
Khi mẹ bị mắc các bệnh truyền nhiễm, ví dụ như viêm gan, viêm phổi, lao… thì tuyệt đối không được cho con bú sữa mẹ để tránh nguy cơ bệnh lây lan sang con.

2. Mẹ đang uống thuốc,
Khi mẹ có triệu chứng như sốt, cảm lạnh và cần phải điều trị bằng thuốc thì không nên cho con bú vào thời điểm đó.

3. Mẹ bị bệnh tim, tiểu đường…
Khi mắc các bệnh trên thì tốt nhất là người mẹ nên rút ngắn thời gian cho con bú nên cai sữa sớm cho bé để chuyển sang dùng sữa ngoài.

4. Mẹ bị viêm núm vú
Những người mẹ có dấu hiệu bị viêm núm vú, đầu vú có dấu hiệu bị loét… thì nên dừng cho con bú.

5. Điều trị phóng xạ
Khi mẹ đang điều trị phóng xạ, rất có thể phóng xạ sẽ nhiễm vào sữa gây tổn hại tới chức năng tuyến giáp của bé.

6. Nhiễm các chất hóa học hoặc thuốc trừ sâu
Bé có thể bị ngộ độc khi bú phải sữa mẹ có nhiễm những chất trên.

7. Sau khi vận động
Trong quá trình mẹ vận động, cơ thể sẽ sản sinh ra axit lactic, sữa có chứa axit latic sẽ bị chua và khiến bé chán ăn.

33. Những người mẹ “kháng giáp”, “suy giáp” có thể nuôi con bằng sữa mẹ không?

Người mắc bệnh kháng giáp, bệnh thường sẽ nặng hơn sau khi sinh. Suy giáp, viên tuyến giáp trạng mãn tính ơ người mẹ sẽ gây ảnh hưởng cho việc cung cấp I ốt của trẻ, dẫn tới trẻ thiếu I ốt (vì sữa mẹ có khả năng cô đặc I ốt), khiến chức năng tuyến giáp trạng suy yếu và gây cản trở cho sự phát triển của xương và não. Do vậy, nếu mắc bệnh này, người mẹ không nên cho con bú.

34. Có nên cho con bú khi người mẹ bị ốm?

Với phần lớn các bệnh nhiễm khuẩn thường gặp người mẹ vẫn có thể tiếp tục cho con bú. Việc cho bú lúc này không làm tăng nguy cơ truyền bệnh cho đứa trẻ vì tron sữa mẹ có sẵn các kháng thể chống lại vi sinh vật gây bệnh.

Tuy vậy, các nhận xét dịch tễ học cho thấy, có một tỷ lệ nhất định trẻ nhỏ lây nhiễm HIV do bú sữa mẹ nếu người mẹ bị HIV dương tính. Do vậy, xu hướng chủ yếu hiện nay là không cho trẻ bú khi mẹ bị nhiễm HIV.
Khi mẹ bị ốm mà phải điều trị bằng thuốc, cần ngừng cho con bú, khi mẹ phải dùng các thuốc chữa bệnh tâm thần, thuốc chống co giật, thuốc điều trị ung thư hoặc đang phải xạ trị đều nên ngưng cho con bú. Để tránh xảy ra những sự cố đáng tiếc do thuốc, người mẹ trong thời gian cho con bú cần theo đúng chỉ định và ý kiến tư vấn của bác sĩ.

35. Khi cho trẻ mới sinh bú nên chú ý điều gì?

Cho trẻ mới sinh bú mẹ nên đặc biệt chú ý: (1) Người mẹ cần có lòng tin và nhiệt tình đối với việc “nuôi con bằng sữa mẹ”. (2) Cho con bú theo nhu cầu. (3) Nắm vững cách thức và biện pháp cho bú. (4) Biết phán đoán trẻ no hay đói. (5) Không cần thiết cho trẻ uống thêm nước hoặc nước hoa quả. (6) Thức ăn của người mẹ cần phải phong phú, giàu dinh dưỡng, bảo vệ sức khỏe tốt cho vú.

36. Tại sao có lúc trẻ cự tuyệt bú mẹ?

Trẻ cự tuyệt bú mẹ có thể là do một vài vấn đề nào đó, đặc biệt nghiêm trọng khi kèm theo các hiện tượng như nôn, đi ngoài, sốt, ngủ mê, co giật… thì người mẹ không được coi nhẹ. Trẻ có thể bị bệnh truyền nhiễm, não tổn thương, có vấn đề về miệng hoặc mũi.

Ngoài ra, có một số trường hợp trẻ cũng sẽ cự tuyệt bú mẹ khi sữa quá nhiều, phun ra quá mạnh khiến trẻ bị sặc, trẻ có cảm giác không thoải mái; đã quen bú bình hoặc người mẹ từng có lúc xa trẻ hoặc từng hạn chế cho trẻ bú. Người mẹ làm những việc khiến trẻ không vui, ví dụ người mẹ có mùi khác lạ, tư thế bú không thoải mái, sữa không đủ, cũng sẽ khiến trẻ “gây rối” hoặc cự tuyệt bú sữa. Người mẹ không áp sát trẻ, khiến trẻ không cảm thấy hơi ấm từ người mẹ cũng sẽ khiến trẻ không muốn bú…

37. Bị “lỡ kế hoạch”, có nên tiếp tục cho con bú?

Rất nhiều bà mẹ đang cho con bú mà vẫn bị “lỡ kế hoạch”. Phần lớn các bà mẹ này đều băn khoăn không biết nên cho bé bú tiếp hay cai sữa?

Rất nhiều nghiên cứu trong thời gian qua cho thấy, việc nuôi con bằng sữa mẹ không gây hại cho bào thaitrong bụng. Tuy nhiên, trong trường hợp này, bạn cần có chế độ ăn uống, ngủ nghỉ hợp lý và khoa học nhất có thể. Trong khi vừa phải bồi bổ đủ dưỡng chất để nuôi con hiện tại, bạn cũng cần bổ sung thêm nhiều loại vitamin để thai nhi trong bụng được hấp thụ tốt nhất

Trên thực tế thì hầu hết các bà mẹ bị lỡ kế hoạch đều quyết định chọn phương pháp cai sữa cho con cho dù bé được bao nhiêu tháng tuổi. Trong thời gian đầu mang thai, hầu hết chị em đều phải đối mặt với chứng ốm nghén, mệt mỏi, đau tức vùng ngực cộng với việc phải cho con bú nữa sẽ vô cùng khó chịu. Chính vì thế, để giảm bớt áp lực, họ thường chấm dứt việc nuôi con bằng sữa mẹ.

Bên cạnh đó, nguồn sữa mẹ khi mang thai cũng có thể bị chuyển đổi mùi vị do các hormone thai kỳ gây ra và thường làm các bé tự chán và bỏ bú.
Trong trường hợp bạn vẫn sẵn sàng với việc cho con bú và bé nhà bạn vẫn bú mẹ bình thường, bạn nên tiếp tục cho con bú hết 3 tháng đầu mang thai và dẫn dần cai sữa trong giai đoạn mang thai thứ 2 để tập trung vào việc chăm sóc em bé trong bụng.

38. Có nên cho trẻ bị “vàng da do sữa mẹ” tiếp tục bú mẹ không?

“Vàng da do sữa mẹ” là một loại bệnh vàng da ở trẻ sơ sinh nhưng không nghiêm trọng lắm. Nguyên nhân không rõ rệt nhưng đa số học giả cho rằng, một loại chất nào đó trong sữa mẹ làm tăng bilirubin trong máu của trẻ. Trong khi đó gan của trẻ mới sinh chưa phát triển hoàn thiện và không làm việc nhanh đủ để loại bỏ bilirubin trong máu dẫn tới bệnh này.

Trẻ mắc bệnh vàng da sơ sinh, không ảnh hưởng nhiều tới sự sinh trưởng phát triển của trẻ, thể trọng vẫn tăng bình thường, phản ứng tốt, không có bất cứ một triệu chứng đặc biệt nào. Sau khi ngừng bú bệnh vàng da biến mất, dù cho bú tiếp vẫn không sao. Bởi vậy, những trẻ mắc bệnh “vàng da do sữa mẹ” không nhất thiết phải ngưng cho con bú. Nếu vàng da tương đối nặng, không thấy giảm, có thể dừng bú mẹ 1 – 4 ngày, hoặc cho bú nhiều lần nhưng bú với lượng ít, cũng có thể cho bú sữa của bà mẹ khác.

39. Trẻ bú mẹ có cần cho uống thêm nước hay nước hoa quả không?

Kết quả nghiên cứu của các nhà dinh dưỡng học hiện nay chứng minh, sữa mẹ là thực phẩm dinh dưỡng tự nhiên và là đồ uống hoàn mỹ nhất cho trẻ sơ sinh, có thể cung cấp toàn bộ dinh dưỡng cần thiết cho trẻ, trong đó có cả nước và các vitamin. Dù trong mùa hè nóng nực thì lượng nước trong sữa mẹ cũng đủ cho trẻ, không cần phải bổ sung thêm.

40. Khi trẻ bú mẹ có cần bổ sung thêm vitamin D?

Sữa mẹ mặc dù là thực phẩm tốt nhất cho trẻ sơ sinh nhưng giống với tất cả các loại sữa khác, hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ rất ít. Tác dụng sinh lý chủ yếu của vitamin d là điều tiết sự trao đổi canxi, phốt pho, vitamin D có thể thúc đẩy sự hấp thu của đường ruột. Canxi, phốt pho, có thể thúc đẩy sự ngưng tụ của canxi, phốt pho trong xương, có lợi cho sự phát triển của xương. Điều mọi người vẫn nói “thiếu canxi”, kì thực chủ yếu là chỉ hiện tượng mắc bệnh còi xương do thiếu vitamin D.
Nhìn chung, trẻ sinh đủ tháng sau 2 tuần cần bổ sung thêm vitamin D, nếu không sẽ mắc chứng thiếu vitamin D.

41. Vì sao không nên cho trẻ uống sữa đậu nành thay thế sữa bột?

Sữa đậu nành là một sản phẩm dinh dưỡng rất tốt, là một loại thực phẩm truyền thống được rất nhiều người yêu thích. Nhưng không thể cho trẻ uống sữa đậu nành thay thế sữa bò. Bởi vì, chất lượng protein ở sữa đậu nành tương đương với sữa bò, chất sắt gấp 5 lần sữa bò, nhưng chất béo lại không bằng 30% sữa bò, kẽm chỉ bằng 20% sữa bò. Bởi vậy, không nên cho trẻ uống sữa đậu nành thay thế sữa bò.

42. Có nên cho con bú khi mẹ bị cúm?

Vì sữa mẹ là một thực phẩm lý tưởng nhất mà không một thực phẩm nào có thể sánh được đối với trẻ sơ sinh. Vì thế, ngay cả khi bà mẹ bị cúm, lời khuyên tốt nhất là tiếp tục nuôi con bằng sữa mẹ. Tuy nhiên, vì những nguy cơ lây lan có thể gặp phải, các bà mẹ nên thực hiện những hướng dẫn sau:
Các trường hợp bị cúm nặng, hắt hơi liên tục, ho liên tục, khạc đờm liên tục thì nên cách ly với con một thời gian. Tạm ngừng việc cho con bú lại trong 2-3 ngày tính từ khi xuất hiện bệnh. Những ngày sau đó có thể tiếp tục cho con bú nhưng phải đeo khẩu trang cẩn thận, rửa tay trước khi bế con, lau sạch đầu vú bằng nước ấm trước khi cho con bú để tiêu diệt hoàn toàn virut.

Mẹ nên tự mình cách ly với con, cho con nằm trong một buồng riêng biệt và nhờ người thân trong gia đình như ông bà, cha mẹ, anh chị hỗ trợ chăm sóc bé thay tã lót, thay bỉm, rửa mặt mũi… Mẹ cũng nên đeo khẩu trang mỗi khi tiếp xúc với người thân để hạn chế lây virut sang người xung quanh vì những người này có thể là đối tượng trung gian truyền bệnh cho bé. Mọi việc chỉ có thể bình thường sau 2 tuần tính từ khi bà mẹ giảm triệu chứng.

43. Khi trẻ sơ sinh bị tiêu chảy có nên tiếp tục cho bú mẹ không?

Đối với trẻ bị tiêu chảy, ngoài việc chú ý tới ăn mặc và chữa trị thì điều chỉnh thức ăn hợp lý cũng vô cùng quan trọng. Trẻ đang bú mẹ thì không cần thiết phải ngừng bú, chỉ cần giảm bớt lượng sữa một cách hợp lý, tức là giảm thời gian bú sữa hoặc kéo dài khoảng cách những lần bú. Thông thường thời gian bú là 10 phút mỗi lần, có thể đổi thành 5-7 phút. Đồng thời vắt hết sữa còn thừa ra, bởi vì hàm lượng mỡ trong sữa còn thừa này cao.

Nếu trẻ đi ngoài nhiều lần, tính chất phân thay đổi hoặc hai mắt trẻ hõm vào, lượng nước tiểu giảm, có hiện tượng mất nước thì lập tức đưa trẻ đi khám. Sau đó cho con bú theo sự chỉ dẫn của bác sĩ, đôi khi cần thiết có thể tạm thời ngừng cho con bú.

44. Ngày đầu tiên sau khi sinh có thể cho trẻ bú mẹ không?

Sau khi trẻ sinh ra, thời gian mẹ con tiếp xúc nhau càng sớm càng lâu thì tình cảm giữa mẹ con càng sâu đậm, sự phát triển tâm lý trẻ càng tốt. Do đó, nên chủ trương cho trẻ nằm trên ngực mẹ bú mẹ trong vòng 1 giờ sau khi trẻ sinh ra. Vậy nên, sau khi sinh, cố gắng cho trẻ bú mẹ sớm nhất.

45. Làm thế nào để sữa tiết ra nhiều hơn?

Người mẹ muốn tăng lượng sữa tiết ra, có thể lựa chọn các cách sau:

  1. Tìm ra nguyên nhân khiến sữa tiết ra ít và giải quyết đúng vấn đề.
  2. Tăng cường cho trẻ bú nhiều lần, trong vòng 24 giờ cho bú ít nhất 8 lần.
  3. Xây dựng niềm tin, tin rằng mình có thể lại tiết ra sữa hoặc tăng lượng sữa tiết ra.
  4. Bảo đảm đủ thức ăn và lượng nước cần thiết, đồng thời nghỉ ngơi đầy đủ.
  5. Ăn thực phẩm lợi sữa.
  6. Cho trẻ bú ngay sau khi sinh. Trẻ muốn bú thì cho bú, không hạn chế về thời gian và số lượng bú. Đêm ngủ cùng trẻ, duy trì cho trẻ bú đêm.
  7. Khi dùng các biện pháp lợi sữa khác không có hiệu quả, có thể thử dùng thuốc lợi sữa. Nhưng cần phải theo sự chỉ dẫn của bác sĩ.

46. Những dấu hiệu nhận biết trẻ bú chưa no?

Làm thế nào để biết rằng, bé yêu nhà bạn đã bú đủ no hay chưa khi trẻ chưa nói được và chỉ biết khóc?

Dưới đây là những dấu hiệu nhận biết trẻ bú chưa no:

  • Ba ngày sau khi sinh, trẻ chỉ “tè” 6 lần mỗi ngày hoặc đi ngoài vẫn có màu đen, xanh và nâu.
  • Trong khoảng thời gian 4 ngày sau khi sinh cho đến lúc tròn 1 tháng tuổi, mỗi ngày trẻ chỉ đi ngoài 3- 4 lần.
  • Sau khi chào đời khoảng 5 ngày, cân nặng của trẻ tăng ít hơn 15 – 30gr.
  • Trẻ bú mẹ ít hơn 8 lần mỗi ngày hoặc số lần bú mẹ nhiều những trẻ luôn khóc và có vẻ bất an.
  • Trẻ thể hiện là em bé “ngoan”, ít khóc, hay ngủ và ngủ kéo dài từ 4 – 6 tiếng mỗi lần.
  • Sinh trẻ được 5 ngày nhưng bầu ngực của mẹ vẫn có cảm giác không thoải mái do bị tức sữa.
  • Khi cho trẻ bú sữa, người mẹ thường cảm thấy đau ngực, ngoài ra đầu ngực bị tấy đỏ.

47. Nên làm gì khi trẻ bị trớ sữa?

Sau khi cho trẻ bú, trẻ hay bị trớ sữa, nguyên nhân chủ yếu là do hệ tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện, trong quá trình bú lại nuốt nhiều thể khí, nên dẫn đến việc ở hơi, trớ sữa. Để tránh tình trạng này, bạn hãy:

  • Khi trẻ khóc không nên cho bú sữa.
  • Không nên để trẻ quá đói mới cho bú.

Ngoài ra, nếu là cho trẻ bú bình thì đầu lỗ của núm vú không nên quá to, cũng không nên quá nhỏ, khi nghiêng bình, mỗi giây sữa nhỏ xuống 2 – 3 giọt là thích hợp nhất. Sau khi cho bú, giúp trẻ nấc ợ, cho thể khí trôi xuống. Như vậy sẽ giúp trẻ không bị trớ sữa.

Bế trẻ qua bên vai, dùng tay xoa, vỗ nhè nhẹ sau lưng, cho đến khi trẻ ợ xong thì thôi.

Để trẻ nằm úp trên đùi bạn, vuốt lưng trẻ, giúp trẻ nuốt các thể khí xuống.

Trẻ lớn hơn, có thể để trẻ ngồi trên đùi mẹ, dùng tay vỗ nhẹ lưng trẻ, giúp trẻ nuốt các thế khí xuống.

48. Nên làm gì khi trẻ bị nấc?

Nấc là một hiện tượng thường gặp, đặc biệt thường thấy nhất ở trẻ mới sinh. Hiện tượng này chỉ là do hệ thống thần kinh của trẻ phát triển chưa hoàn thiện gây ra. Đó không thể coi là bệnh.

Thần kinh ở trẻ mới sinh còn chưa phát triển hoàn thiện, gây ảnh hưởng tới chức năng hoạt động của thần kinh tự chủ trong việc khống chế sự hoạt động của cơ hoành. Khi trẻ mới sinh bị những kích thích nhẹ như hít không khí lạnh vào, đưa thức ăn vào quá nhanh… sẽ dẫn tới cơ hoành đột nhiên co bóp, khiến thở nhanh, thanh đới thu lại, thanh môn đột nhiên đóng chặt, mà phát ra tiếng “nấc”. Cùng với sự lớn lên của trẻ, hệ thống thần kinh dần dần hoàn thiện, hiện tượng nấc cũng sẽ giảm dần. Do vậy, các bậc cha mẹ không cần phải lo lắng quá mức khi thấy trẻ nấc. Khi trẻ nấc, có thể cho trẻ uống một chút nước ấm, hoặc bế trẻ lên vỗ nhẹ vào lưng, có thể sẽ hết nấc.

49. Cách vệ sinh các dụng cụ ăn uống của trẻ?

Cho các dụng cụ như bình đựng sữa, núm vú, nắp bình, thìa,… vào dung dịch nước sôi, xà phòng và rửa sạch một lượt.
Rửa sạch bình sữa, núm vú và các vật dụng khác bằng vòi nước sạch, đồng thời vệ sinh tay sạch sẽ.

Dùng bàn chải cọ rửa phần trong của bình và miệng bình.
Để hết các dụng cụ của trẻ vào nồi lớn ngập nước (trừ núm vú không để vào) rồi đun sôi. Núm vú chỉ cho vào sau khi nước đã sôi độ 15 phút, để trong nước sôi khoảng 10 phút thì vớt ra. Sau đó, dùng đũa sạch gắp từng cái ra, để vào một nồi khác khô sạch, cắt dùng.

50. Thời gian cho trẻ bú bình bao lâu là hợp lý?

Thông thường, cứ khoảng 3 – 4 tiếng cho trẻ bú sữa một lần. Thời gian cho uống cần suy xét tới thời gian ngủ của trẻ, quy luật và thói quen sống của cha mẹ. Tốt nhất, đưa trẻ vào nếp sống chung giống với cả nhà. Cho trẻ uống sữa dựa theo thời gian 4-8-11-2-5-8-12 hoặc 5-9-1-5-9-1 (tức là lấy khởi điểm là buổi sáng lúc 4 hoặc 5 giờ, sau đó cách 3-4 tiếng cho uống một lần). Không nên cho trẻ uống sữa ban đêm (12 giờ đêm đến 4 giờ sáng), điều này sẽ hình thành thói quen ăn đêm ở trẻ. Cần tạo cho trẻ thói quen uống sữa đúng giờ, nếu uống sữa không theo quy luật sẽ khiến trẻ không có cảm giác no đói rõ ràng, điều này bất lợi cho việc ăn uống sau này của trẻ.

Mặc dù khuyên các bà mẹ cho trẻ uống sữa theo thời gian 3 – 4 tiếng/lần, song cũng cần linh hoạt. Không nên cứ tới thời gian uống sữa, là phải cho trẻ uống sữa bằng được (mặc dù trẻ đang ngủ ngon cũng đánh thức trẻ dậy uống sữa); Cũng không nên thấy trẻ ngủ quá ngon (hơn 6-7 tiếng) mà không đánh thức trẻ dậy uống sữa (đặc biệt là trẻ mới sinh, ngủ suốt ngày).

51. Để trẻ có cảm giác hơi đói liệu có tốt không?

Để trẻ hơi đói vô cùng tốt. Dạ dày là cơ quan dự trữ và tiêu hóa thức ăn, có quy luật làm việc của nó. Sau khi thức ăn vào dạ dày, nó sẽ tích cực làm việc, tiết men và dịch để bắt đầu quá trình tiêu hóa và hấp thụ thức ăn.
Khi thức ăn trong dạ dày được bài tiết hết ra ngoài, lúc này, dạ dày đã “nghỉ ngơi”, song vẫn tiếp tục các loại men và dịch tiêu hóa thì con người sẽ có cảm giác đói, ở trẻ sẽ xuất hiện tình trạng quấy khóc hoặc có động tác “tìm kiếm thức ăn”. Do dạ dày hàng ngày đều làm việc có quy luật, nếu không có thời gian “nghỉ ngơi” để chuẩn bị cho lần làm việc tiếp theo thì sẽ không tiết ra đủ men và dịch tiêu hóa, khả năng tiêu hóa của da dày yếu đi. Bởi vậy, trẻ có cảm giác đói là điều tốt, cho thấy chức năng tiêu hóa của trẻ bình thường.

52. Cho trẻ uống sữa bằng cốc như thế nào?

Cho trẻ uống sữa bằng cốc là một biện pháp tương đối an toàn. Chọn một chiếc cốc đã rửa sạch sẽ, bế trẻ vào lòng, ở vị trí thuận lợi, lưng thẳng, để cốc gần miệng trẻ, trẻ sẽ tự thực hiện động tác hút sữa. Mỗi lần đổ một ít sữa vào miệng trẻ, động tác phải nhanh, đồng thời phải cho trẻ thời gian để nuốt sữa, không được đổ sữa liên tục. Cho trẻ nghỉ một lát sau mỗi lần hút sữa. Cho uống sữa bằng cốc an toàn, cũng dễ thực hiện, thậm chí có thể cho được cả trẻ có trọng lượng rất nhỏ uống, chỉ cần trẻ nuốt được là có thể cho uống sữa bằng cốc. Khi trẻ uống được bằng cốc, trẻ sẽ đỡ mệt hơn so với bú bình.
Cho uống sữa bằng thìa nhỏ cũng tương đối an toàn, nhưng mất khá nhiều thời gian. Nếu cơ thể trẻ yêu, như hô hấp khó khăn, thì dùng thìa là tốt nhất.

53. Tại sao không nên dùng sữa công thức cho trẻ sơ sinh đẻ non?

Theo các nhà khoa học, sữa công thức không gây nguy hiểm đối với trẻ đủ tháng, trẻ khỏe mạnh nhưng không nên dùng chúng để nuôi trẻ đẻ non hoặc trẻ có hệ miễn dịch suy giảm.
Khuyến cáo này được đưa ra sau khi xuất hiện vài trường hợp trẻ sơ sinh đẻ non bị viêm màng não và viêm ruột dẫn tới tử vong. Thủ phạm gây bệnh có thể là một vị khuẩn mang tên Enterobacter và đã có những bằng chứng thuyết phục rằng vi khuẩn này bắt nguồn từ sữa bột công thức.

54. Làm thế nào nhận biết được tình trạng dinh dưỡng của trẻ qua đặc tính của phân?

Trẻ bú mẹ phân thường hơi vàng hoặc vàng ánh, mềm như thuốc đánh răng nhưng không có mùi thối. Trẻ đi đại tiện nhiều lần, thường 2-4 lần mỗi ngày, có trẻ tới 78 lần, đây gọi là đi ngoài sinh lý. Bố mẹ không phải lo lắng, đó đều là hiện tượng bình thường, trong một nhất định, hiện tượng đi ngoài này sẽ biến mất. Trẻ uống sữa bò đi đại tiện lượng tương đối nhiều, mỗi ngày 1-2 lần, phân hơi có mùi thối.

Hình dáng, màu sắc, mùi của phân và số lần đại tiện trẻ uống sữa bò khác so với trẻ bú mẹ. Nếu nuôi dưỡng không tốt, có thể thấy rõ qua phân trẻ. Bởi vậy, chúng ta có thể điều chỉnh dinh dưỡng hợp lý cho trẻ nhỏ qua đặc tính phân của chúng.
Trẻ mới sinh, dù không ăn bất cứ thứ gì, thông thường cũng sẽ đi ra phân su màu xanh đen sau khi sinh 10-12 tiếng. Sau khi uống sữa 3-4 ngày, phân có vàng xanh, đó gọi là phân “đã đủ kì hạn”, dần dần phân có màu vàng. Nếu sau khi sinh 24 giờ trẻ không đi ra phân su hoặc 4-5 ngày vẫn không đi ra phân thì nên đi khám.

Có trẻ số lần đi đại tiện nhiều nhưng lượng ít, phân lại ở dạng nhầy, có màu xanh, xuất hiện các tép sữa, cho thấy trẻ bú quá nhiều, nên giảm bớt lượng sữa. Cũng có trường hợp sau khi đã giảm lượng sữa trẻ vẫn bị tiêu chảy. Đây có thể là bệnh đi ngoài do đói nên cần tăng lượng sữa thích hợp.

Trẻ uống sữa bò, nếu phân quá cứng, thối, cho thấy trẻ uống quá nhiều, lượng đường ít, nên tăng thêm đường trong sữa. Nhưng nếu cho quá lượng đường thì phân trẻ lại kèm theo bọt. Nếu phân hơi nhão có màu vàng, mùi chua thì lại nên giảm lượng đường, tăng lượng sữa.
Nếu phân của trẻ luôn có màu xám trắng từ lúc mới sinh, chưa từng có màu vàng thì rất có thể do gan trẻ không tốt. Khi đường ruột của trẻ nhiễm khuẩn, số lần đi đại tiện nhiều, phân nhão hoặc lỏng, phân có mùi hôi kèm dịch nhầy, xuất hiện nôn, chán ăn, sốt, thậm chí mất nước… phải đưa trẻ tới bệnh viện khám.

55. Có thể duy trì bú mẹ bao lâu? Lúc nào thì cai sữa?

Trẻ trước 4 tháng tuổi nên bú mẹ hoàn toàn, không cần thêm bất cứ thức ăn, nước và đồ uống nào khác. Sau khi trẻ đủ 4 tháng tuổi, dù sữa mẹ tiết ra nhiều hay ít cũng nên bắt đầu cho trẻ ăn dặm thêm. Nhìn chung, trong trường hợp đã bổ sung thêm thức ăn phụ thì trẻ bú mẹ có thể kéo dài tới lúc 2 tuổi. Lúc này, cơ quan tiêu hóa của trẻ đang dần dần hoàn thiện, chức năng nhai và tiêu hóa đang mạnh lên, có thể thích ứng với việc cai sữa. Với trẻ yếu có thể kéo dài thêm thời gian bú, để tránh làm giảm sức đề kháng của trẻ. Trong trường hợp người mẹ bị bệnh nặng nên lập tức cho trẻ cai sữa.

56. Sau khi cai sữa trẻ thường gặp những vấn đề gì?

Bé không thích ăn thức ăn phụ. Khi bé không thích ăn, nhất thiết không được ép, cần quan sát kỹ để tìm ra nguyên nhân, liệu có phải thức ăn quá mềm hoặc cứng hay quá lạnh, quá nóng, không thích hợp với bé không?

Sau khi ăn thức ăn phụ trẻ bị đi ngoài. Lúc mới đầu, phân sẽ có sự thay đổi do thức ăn thay đổi, có trẻ còn bị tiêu chảy. Lúc này nên quan sát kỹ số lần đi ngoài của trẻ để có điều chỉnh kịp thời.

Trẻ bị phát ban. Trẻ ăn loại thức ăn không phù hợp thì phát ban càng nặng, như ăn trứng gà, cá, tôm… Tình trạng này liên quan đến phản ứng do quá mẫn cảm đối với một loại thức ăn nào đó, có thể cho trẻ tạm ngừng ăn loại thức ăn đó.

57. Làm thế nào giúp trẻ vượt qua thời kì cai sữa một cách thuận lợi?

1. Chọn thời điểm cai sữa. Tốt nhất nên cai sữa vào mùa xuân và mùa thu, do mùa xuân tương đối ấm áp, không lạnh cũng không nóng, có lợi cho hoạt động bên ngoài và giấc ngủ của trẻ. Mùa xuân, mùa thu thức ăn phong phú, tươi ngon, chất lượng tốt, rất thích hợp với trẻ. Tuy nhiên, khi cai sữa nếu trẻ mắc bệnh, cũng không nên chỉ đơn thuần chọn theo mùa mà coi nhẹ tình trạng sức khỏe của trẻ, ép trẻ cai sữa. Đợi sau khi bệnh của trẻ phục hồi thì mới nên cai sữa.

2. Nắm vững phương pháp cai sữa đúng đắn. Đối với trẻ, cai sữa không chỉ là một thay đổi quan trọng của thói quen sống, còn là một bước chuyển quan trọng về mặt tâm lý. Do vậy, người mẹ cần có sự chuẩn bị tốt về mặt tâm lý. Một mặt không nên vừa thấy trẻ quấy khóc đã “mềm lòng” nhưng cũng không nên quá “cứng nhắc” khi cai sữa cho con, mà cần tiến hành theo kế hoạch, cho trẻ một quá trình thích ứng. Cần từng bước tăng cường sản phẩm thay sữa và thức ăn phụ, để trẻ dần dần tiếp nhận các loại thức ăn này, tiếp đến giảm bớt số lần bú. Sự tiết sữa có liên quan mật thiết tới số lần cho bú. Nếu mỗi ngày cho bú giảm đi 3 lần thì lượng sữa tự khắc sẽ giảm dần.

58. Điều chỉnh thức ăn thế nào sau khi cai sữa?

Sau khi cai sữa, mỗi ngày trẻ từ 1-3 tuổi cần một lượng nhiệt năng khoảng 4600-5020kJ, lượng protein là 35-40g. Do chức năng tiêu hóa của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ còn kém, nên từng bước bổ sung các thực phẩm mới, cho trẻ ăn từ lỏng đến đặc, từ mềm tới cứng, từ tinh tới thô, từ ít tới nhiều. Sau khi trẻ đã quen với một loại thức ăn mới cho trẻ tập ăn loại thức ăn khác. Bên cạnh đó theo từng độ tuổi mà tiếp tục cho trẻ uống lượng sữa thích hợp.

59. Thức ăn phụ là gì?

Thức ăn phụ là chỉ thức ăn ngoài sữa mẹ như bột, cháo, cơm, rau, hoa quả…

60.Vì sao cần bổ sung thức ăn phụ cho trẻ?

Mọi người đều biết, thức ăn chính ở thời kỳ sơ sinh là các loại sữa. Cùng với sự lớn lên của trẻ, đòi hỏi phải tăng cường chất dinh dưỡng, chất dinh dưỡng đơn thuần có trong sữa mẹ và sữa bò hiển nhiên không đủ, thậm chí ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của trẻ, như dẫn tới bệnh thiếu máu do thiếu sắt, bệnh còi xương. Ngoài ra, trẻ khoảng 5-6 tháng tuổi bắt đầu mọc răng, chức năng tiêu hóa của dạ dày, ruột cũng ngày càng hoàn thiện, có thể tiêu hóa các thức ăn khác ngoài sữa mẹ. Vì vậy, cần kịp thời từng bước bổ sung các loại thức ăn phụ cho trẻ, giúp trẻ dần dần thích ứng.

…(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *