43 lượt xem

150 CÂU HỎI VỀ SỨC KHỎE CỦA BÉ (P2)

13. Làm thế nào để phòng bệnh còi xương?

Dự phòng kì mang thai. Thời kì mang thai cuối (tức là vào 3 tháng cuối 7, 8, 9) nhu cầu về vitamin D, canxi, phốt pho không ngừng tăng. Vì thế giữ gìn sức khỏe trong thời kì mang thai rất quan trọng.

Người mẹ mang thai nên thường xuyên ra hoạt động ở ngoài trời phơi nắng. Bắt đầu giữa kì mang thai thì uống vitamin D.
Thức ăn phải giàu vitamin D, canxi, phốt pho, protein và nhiều chất dinh dưỡng khác. Người phụ nữ mang thai nên cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, ăn các thức ăn giàu vitamin D và canxi.
Tích cực phòng bệnh cho phụ nữ có thai, nếu mắc phải chứng bệnh mà lượng canxi trong máu giảm hay xương mềm thì phải chữa trị.
Trong mùa đông xuân phụ nữ mang thai hoặc người có thể yếu nên uống 100 – 200.000 IU vitamin D trong tháng mang thai thứ 7 – 9, đồng thời uống bổ sung canxi.

Dự phòng kì sơ sinh. Trong kì sơ sinh, cho trẻ uống vitamin. Trẻ nhỏ áp dụng phương pháp dự phòng bằng cách phơi nắng mùa thu hè, uống vitamin D vào mùa thu đông, mùa đông.

14. Làm thế nào để chữa bệnh còi xương cho trẻ?

Cách chữa thông thường: Tăng cường chăm sóc cho trẻ nhỏ, dinh dưỡng hợp lí, kiên trì phơi nắng, tích cực phòng trừ và phát hiện các chứng bệnh.
Cách chữa bằng thuốc: theo chỉ định của bác sĩ.
Trong mùa thu và mùa hạ có thể cho trẻ phơi nắng, còn vào mùa đông và xuân thì cho uống vitamin D theo đơn của bác sĩ.

15. Nên bổ sung canxi thế nào cho trẻ mắc bệnh còi xương?

Quan trọng nhất của chữa bệnh còi xương là bổ sung vitamin D hợp lí. Chỉ riêng canxi thì không thể khống chế được bệnh. Bổ sung vitamin D đồng thời bổ sung canxi, bổ sung canxi thì cũng phải bổ sung lượng vitamin D hợp lí. Vậy bổ sung canxi như thế nào? Bổ sung loại canxi nào? Và số lượng là bao nhiêu? Nên nắm vững các nguyên tắc sau: (1) Cơ thể người cần nhu cầu canxi toàn diện và phần lớn là hấp thụ qua thức ăn. (2) Không phải cứ bổ sung nhiều canxi là có lợi mà phải theo nguyên tắc: thiếu bao nhiêu bổ sung bấy nhiêu. Thường là bổ sung 1/3 lượng cung cấp hoặc xấp xỉ nhu cầu sinh lí.

(3) Hiện nay các thuốc bổ sung canxi rất phong phú, nên chọn lựa các loại giàu nguyên tố canxi, độ axit hay kiềm thích hợp, không chứa các chất độc hại, ngon miệng , dễ uống, dễ bảo quản, hợp túi tiền. (4) Trẻ mắc bệnh thì căn cứ theo lượng ở trên bổ sung canxi trong vòng 2 – 3 tháng, đồng thời phải bổ sung vitamin D.
Tốt nhất, khi đã mắc bệnh còi xương cần cho trẻ tới bác sĩ chuyên khoa để được thăm khám và chữa trị theo chỉ dẫn của bác sĩ.

16. Trẻ mắc bệnh còi xương cần bổ sung kẽm không?

Trẻ mắc bệnh còi xương nếu kèm theo kẽm trong máu thấp nên đồng thời bổ sung kẽm. Kẽm tham gia nhiều vào quá trình thay đổi gốc axit và protein. Nhưng canxi và kẽm không thể uống cùng nhau, bởi vì hai chất tiêu diệt lẫn nhau, không có lợi cho hấp thu. Tốt nhất là nên dùng canxi và kẽm cách nhau trên 3 tiếng.

17. Trẻ chậm mọc răng thì làm thế nào?

Quá trình phát triển của răng có quan hệ mật thiết với môi trường trong và ngoài cơ thể, trong giai đoạn hình thành phôi răng, đặc biệt là nhân tố di truyền, các trở ngại thay đổi nghiêm trọng trong kì mang thai của cơ thể mẹ… Đều có ảnh hưởng đến quá trình hình thành phôi răng của trẻ.

Vì vậy, mọc răng muộn không chỉ do thiếu canxi gây nên. Đứa trẻ bình thường khoảng 6 tháng thì mọc chiếc răng đầu tiên nhưng có trẻ mọc răng muộn, thậm chí muộn khoảng 3 – 4 tháng cũng nên nghĩ là bình thường. Về mặt lâm sàng, trẻ khoảng 1 tuổi bắt đầu mọc răng cũng là bình thường. Thông thường trẻ 10 tháng chưa mọc răng thì chuẩn đoán là mọc răng chậm.
Nếu trẻ sau 10 tháng vẫn chưa mọc chiếc răng đầu tiên, nên kiểm tra xem có mắc các bệnh như bệnh còi xương, bệnh chậm lớn, thiếu dinh dưỡng hoặc do các độc tố bẩm sinh. Khi cha mẹ phát hiện ra trẻ mọc răng muộn nên đến bắc sĩ khám một cách toàn diện không nên tự tiện cho con uống dầu cá hay canxi một cách mù quáng, tránh các hậu quả không mong muốn.

18. Trẻ bị vòng kiềng thì có nên làm phẫu thuật không?

Trẻ mắc bệnh còi xương khi đứng hay đi do xương bị mềm và do lực của cơ thể gây nên, hai đầu gối, xương đùi thậm chí chỗ xương đùi xuất hiện chỗ cong, mà chúng ta hay nói là chân vòng kiềng. Vì thế, chân trẻ nhỏ hình chữ O hoặc chữ X là do di chứng của bệnh còi xương. Kì đầu thường không dùng phẫu thuật nên bổ sung vitamin D và canxi, tăng cường rèn luyện thể lực và dinh dưỡng hợp lí, tập luyện. nếu sau 3 tuổi vẫn tồn tại dị hình của xương, không nên dùng vitamin D, chỉ nên dùng duy nhất phương pháp uốn nắn, có thể nắn bóp cho cơ thịt (nếu chân hình chữ O thì nắn phía bên ngoài, nếu chân hình chữ X thì nắn bên trong), tăng cường các bài tập thể lực, phối hợp điều trị phục hồi các dị hình. Nếu di chứng nặng hoặc ảnh hưởng tới sinh lí hay hình dạng của trẻ, như khi đứng hai đầu gối cách xa nhau hơn 10cm thì giai đoạn trưởng thành có thể xem xét mà điều trị, phẫu thuật chỉnh hình.

19. Cho trẻ uống vitamin như thế nào?

Phần lớn vitamin trong cơ thể người không tạo ra được mà phải lấy từ thức ăn, vì thế mà phải ăn uống đủ chất, đảm bảo đủ dinh dưỡng. Vitamin không phải là thuốc kích thích, càng không phải là cơm ăn. Vitamin bản thân không chứa nhiệt lượng cũng không chứa bất cứ vật sản sinh năng lượng nào, cũng không phải là protein hoặc các chất dinh dưỡng khác như khoáng chất, chất béo, các sản phẩm thay thế nước. Vì thế chỉ uống vitamin mà không ăn thức ăn thì cơ thể không thể đủ dinh dưỡng và con người cũng không có sức khỏe.

Các vitamin A, D, E hòa tan trong mỡ nếu không có chất béo tham gia thì cơ thể rất khó hấp thu. Các loại vitamin hòa tan trong nước như B1, B2, C sau khi uống phải qua sự hấp thu của dạ dày. Nếu dạ dày rỗng, uống vitamin thì các cơ quan chưa kịp hấp thu vitamin đã theo đường nước tiểu thải ra ngoài, không có tác dụng. Vì vậy các loại vitamin phải dung kèm với các chất dinh dưỡng, uống sau khi ăn, vitamin chỉ là một loại thuốc bổ sung dinh dưỡng không thể thay thế thức ăn hàng ngày.

20. Nguyên nhân nào dẫn đến thiếu vitamin A?

Những nguyên nhân dẫn đến thiếu Vitamin A là:

Không nạp đủ vitamin vào cơ thể. Hàm lượng của vitamin A trong gan của trẻ rất ít. Hàm lượng vitamin A trong sữa tươi và sữa bột khá cao, vitamin A chủ yếu có nhiều trong gan động vật, dầu gan cá, bơ, long đỏ trứng, sữa bò, cà rốt, các rau xanh và các loại hoa quả. Nếu chỉ ăn gạo và mì sẽ gây thiếu vitamin A, do vậy, trẻ 1 – 3 tuổi hay thiếu vitamin A.

Hấp thụ không tốt. Nếu trẻ mắc các bệnh dưới đây: Bệnh lị mãn tính, viêm dạ dày, các chứng bệnh tim, gan và tuyến tụy mãn tính hoặc do trong thức ăn thiếu chất béo. Như vậy sẽ ảnh hưởng đến hấp thu vitamin A.

Tiêu hao quá nhiều. Nếu trẻ mắc các bệnh truyền nhiễm mãn tính, sẽ làm mất vitamin A, gây thiếu vitamin A.

Thiếu protein, các nguyên tố vi lượng. Nếu cơ thể trẻ thiếu protein kéo theo vitamin A, hoặc sự vận chuyển vitamin A trong cơ thể gặp trở ngại, cũng gây thiếu vitamin A trong máu.

Việc chuyển hóa vitamin gặp trở ngại. Nếu trẻ bị bệnh gan mãn tính, bệnh tiểu đường, công năng tuyến giáp giảm (bẩm sinh), quá trình chuyển hóa vitamin A thành enzim giảm (bẩm sinh),… cũng sẽ làm cho trẻ thiếu vitamin A.

21. Thiếu vitamin A sẽ gây nguy hiểm gì?

Mắt. Tuyến lệ quá tải, ngừng điều tiết nước mắt, gây bệnh khô mắt, từ đó khả năng thích ứng bóng tối giảm có thể gây bệnh quáng gà. Thiếu vitamin A lâu ngày có thể dẫn tới mù lòa.

Da. Thiếu vitamin A làn da của trẻ có những thay đổi. Ban đầu da của trẻ khô, sau đó da ở chân lông bị sừng hóa, gọi là bệnh da cóc, bệnh phát sinh trên mặt có thể có rất nhiều nốt đen, người bệnh tóc khô, không bóng, dễ rụng, móng tay bị giòn, trên da có vết ngang dọc hoặc nốt lồi lõm.

Vitamin A có tác dụng quan trọng đối với sự phát triển của hệ xương và các cơ quan mềm, có thể thúc đẩy sự phát triển của hệ cơ. Nếu thiếu vitamin A sẽ gây thiếu dinh dưỡng, trở ngại thần kinh, sinh trưởng chậm, trí lực giảm sút, xuất huyết và não tích nước.

22. Nên phòng và chữa bệnh thiếu vitamin A thế nào cho trẻ?

Phòng thiếu vitamin A cho trẻ tốt nhất là bổ sung qua đường ăn uống. Thực phẩm cung cấp vitamin A là từ các loại thịt động vật, các loại thực phẩm giàu vitamin A: dầu cá , các loại sữa, tim gan động vật, các sản phẩm chế biến từ sữa. Ăn các loại rau quả có chứa carotin – tiền vitamin A, là nguồn sản sinh vitamin A. Bổ sung vitamin A cho trẻ, ngoài việc cho trẻ bú có thẻ cho ăn thêm nước hoa quả, nước rau hoặc bột rau.
Khi thiếu vitamin A cần điều trị thì có thể uống dầu cá và các loại thuốc vitamin A. Nếu trẻ uống quá nhiều vitamin A sẽ gây ngộ độc. Chứng bệnh này sẽ làm da khô, mất nước, phù gan và đau khớp. Nếu đã xác định chính xác bệnh nên ngừng cho trẻ uống vitamin A.

23. Thực phẩm giàu vitamin A gồm những loại nào?

Thực phẩm giàu vitamin A gồm: Gan động vật (gan lợn, gan gà, gan trâu bò), long đỏ trứng gà, các loại sữa và các thực phẩm chứa nhiều carotin như các loại hoa quả và các loại rau, củ có màu da cam hay xanh đậm như: cà rốt, bó đỏ, cà chua, rau chân vịt, rau hẹ, rau diếp, cây hoa hiên…

24. Nguyên nhân nào gây thiếu vitamin C?

Vitamin C không được dự trữ và nó được hấp thu chủ yếu tại ruột non, lượng vitamin từ 60 – 180mg/ngày sẽ được ruột hấp thu hoàn toàn. Nếu cung cấp trên liều này thì sự hấp thu sẽ bị giảm sút.

Vitamin C lại bị phá hủy nhanh chóng vì dễ bị hòa tan trong nước và bị mất tới 50 – 80% trong quá trình nấu nướng.
Phần lớn vitamin rất dễ bị hủy hoại bởi nhiệt độ và ánh sáng, việc bảo quản thực phẩm sai cách, không tốt cũng làm mất lượng vitamin C cần thiết.
Trong các loại vitamin thì vitamin B1 và vitamin C dễ bị phá hủy nhất, cho nên dù bé vẫn lên cân bình thường do được cung cấp đủ năng lượng nhưng vẫn có thể bị thiếu vitamin C. Ngay cả những trẻ béo phì cũng thiếu vitamin C bởi chế độ ăn không có hoặc thiếu chất xơ, không cân đối: ăn nhiều chất ngọt, chất béo… Ăn ít rau xanh và trái cây chín cũng là nguyên nhân gây thiếu hụt vitamin C ở trẻ. Bởi vitamin C có chủ yếu trong rau quả tươi, cam quýt và rau xanh, còn thịt, sữa, hay những thực phẩm đóng hộp, những thực phẩm chế biến sẵn lại có rất ít vitamin C.
Ngoài ra, việc thiếu hay đủ vitamin C còn phụ thuộc vào sự hấp thu chuyển hóa, vào cơ địa của từng trẻ.

25. Trẻ thiếu vitamin C sẽ có những biểu hiện nào?

Thiếu vitamin C dẫn đến bệnh thiếu máu của trẻ kéo dài. Ban đầu trẻ sẽ có các triệu chứng đặc thù như: Kích động, suy nhược, mệt mỏi, chán ăn, giảm cân, da xanh. Có thể xuất hieenjcacs triệu chứng rối loạn tiêu hóa như: Buồn nôn, tiêu chảy. Giai đoạn này gọi là giai đoạn cấp tính, thường có sốt nhẹ. Khi phát bệnh thì nhiệt độ cơ thể có thể tăng cao, mạch đập nhanh, đau xương, chân cong vào trong giống như chân ếch, không muốn di chuyển, tê liệt. Do quá đau, nên trẻ rất sợ bị chạm vào chân. Khi nhìn thấy có người sắp đến gần sẽ sợ hãi và khóc. Bất kì chỗ nào trên cơ thể cũng có thể bị xuất huyết ở các mức độ khác nhau, hay gặp nhất là xuất huyết dưới màng xương. Chân răng hay bị xuất huyết, hay gặp ở hầu hết các trẻ đã mọc răng hoặc đang mọc răng. Chân răng có màu đỏ tía, sưng tấy và lỏng, chỉ cần ấn nhẹ cũng chảy máu.

… (Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *