85 lượt xem

150 câu hỏi về sức khỏe của bé (P3)

26. Làm thế nào để đề phòng và chữa bệnh thiếu vitamin C?

Cơ thể người không thể tự tổng hợp vitamin C, mà buộc phải nạp từ bên ngoài vào. Nó chủ yếu tồn tại trong rau và hoa quả tươi.

Sữa mẹ có hàm lượng vitamin C rất cao, đó cũng là một trong những lý do nên nuôi con bằng sữa mẹ. Vì vậy phụ nữ mang thai nên ăn thức ưn giàu vitamin C như hoa quả rau tươi, hoặc hòa vitamin C vào nước cho thêm đường uống.

Trẻ sơ sinh nếu không nuôi sữa mẹ thì sau khi sinh từ 2 – 4 tuần bắt đầu bổ sung vitamin C bằng các thực phẩm mà trẻ dễ tiêu hóa như: nước quất, nước cà chua, canh rau cải, nước cà rốt… 4 – 5 tháng bắt đầu cho ăn bột rau. Trẻ nuôi bằng sữa ngoài mỗi ngày nên bổ sung vitamin C. Trẻ bị bệnh càng cần bổ sung vitamin C.

Nếu trẻ đã bị bệnh thiếu vitamin C, nên được tới bác sĩ để thăm khám và chữa trị đúng cách.

27. Thiếu vitamin B1, B2, B6 có những nguy hiểm nào?

1. Chứng thiếu vitamin B1. Tác dụng chủ yếu của vitamin B1 là tham gia vào quá trình trao đổi đường trong cơ thể. Vitamin B1 chủ yếu tồn tại trong gạo lức, ngũ cốc, đậu tương, gan động vật và thịt nạc. Khi thiếu vitamin B1, quá trình trao đổi đường ở các cơ quan, các tổ chức trong cơ thể bị rối loạn.

2. Triệu chứng thiếu vitamin B2. Thiếu vitamin B2 sẽ dẫn tới các chứng bệnh liên quan đến răng, lưỡi, mắt và da, ảnh hưởng tới sự hấp thu sắt và sự sinh trưởng phát triển như dễ bị loét miệng, lở môi, mệt mỏi, tóc.

3. Triệu chứng thiếu vitamin B6. Vitamin B6 có quan hệ mật thiết với hấp thu axit amin, tổng hợp protein, quá trình trao đổi chất của hệ thần kinh và trao đổi chất béo, cần thiết cho sinh trưởng.

Chứng thiếu vitamin B6 biểu hiện lâm sàng chủ yếu là hệ thần kinh. Trẻ mắc bệnh hay hưng phấn, hay quấy khóc, sợ hãi, nhãn cầu long, khiếp sợ liên tục, đau bụng, nôn mửa, giảm cân,cứ sau 3 tiếng đến 5 ngày lại rung mình, nếu không chữa trị kịp thời thì sẽ để lại di chứng giảm sút trí lực. Thiếu vitamin B6 sẽ dẫn tới viêm da tính nhờn ở xung quanh mắt, mũi, miệng.

28. Khi hấp thu vitamin nhóm B cần chú ý điều gì?

Vì vitamin nhóm B là các vitamin có thể hòa tan trong nước, nên chúng không được tích trữ trong cơ thể và có thể bài tiết ra ngoài nếu cơ thể chúng ta thu nạp quá mức. Chính vì vậy mỗi ngày chúng ta đều phải hấp thu một lượng vitamin B nhất định, nếu không cơ thể sẽ bị thiếu vitamin nhóm này.

Đối với vitamin B6, cho đến 50 tuổi, chúng ta cần 1,7mg. Tuy nhiên các chuyên gia khuyên rằng nếu lượng calo mag bạn hấp thu mỗi ngày trên 2000 thì lượng vitamin B6 bạn cần là 2mg. Những người có khẩu phần ăn đa dạng thì sẽ không bao giờ gặp vấn đề trong việc hấp thu các vitamin nhóm B.

Khi bị thiếu các vitamin nhóm B, chúng ta sẽ dễ nổi nóng, thần kinh bị suy nhược, thậm chí bị co giật. Ngược lại, nếu chúng ta dùng một lượng lớn các thuốc bổ sung vitamin B thì hệ thần kinh của chúng ta sẽ bị rối loạn hoặc bị tê liệt.

Hãy đảm bảo rằng mỗi ngày cơ thẻ bạn luôn hấp thu đủ lượng vitamin B cần thiết. Nếu bạn là người có khẩu phần ăn ít tinh bột và đường thì bạn có thể bổ sung lượng vitamin B cho cơ thể bằng cách ăn nhiều cá, ức gà, các loại hạt hoặc sử dụng các loại thuốc bổ sung vitamin nhóm B.

29. Vitamin nhóm B có nhiều trong những loại thực phẩm nào?

Vitamin nhóm B có nhiều trong các loại thực phẩm như: Khoai tây, chuối, đậu lăng, cá ngừ, các loại đậu, các loại hạt, các loại trứng, ngũ cốc và bột yến mạch, các loại nước uống tăng lực, bia, ức gà, nước ép cà chua…

30. Thiếu kẽm ảnh hưởng gì tới sức khỏe của trẻ?

Kẽm là nguyên tố cần thiết cho cơ thể người, được phân bố nhiều ở hệ thống thần kinh, xương, đầu, da và hệ miễn dịch; không chỉ là thành phần tổng hợp và kích hoạt các loại enzim, mà còn trực tiếp tham gia vào quá trình tổng hợp protein và trao đổi axit amin; là thành phần chính cấu tạo nên protein trong nước bọt, giúp tạo mùi vị khi ăn. Thiếu kẽm có thể gây ra một loạt các rối loạn trao đổi chất trong cơ thể: Chức năng sinh lí không bình thường, vị giác giảm, vết thương khó lành, viêm da, cản trở quá trình sinh trưởng và phát triển. Nguyên nhân chủ yếu của thiếu kẽm là nạp không đủ lượng kẽm vào cơ thể, vì vậy làm cho quá trình tiêu hóa, hấp thu gặp khó khan. Khi bệnh cấp tính thì chủ yếu biểu hiện ở da và các đầu ngón chân, đầu ngón tay, vòm họng, mi mắt, hậu môn, và các bộ phận dễ bị kích thích hình thành loét, bọc nước hay bọc mủ đồng thời xuất hiện rụng lông, tóc. Bệnh thiếu kẽm mãn tính có biểu hiện:  trẻ sinh trưởng khó khan, chiều cao thấp hơn trẻ cùng tuổi, tuyến sinh dục  phát triển không đồng đều, chậm dậy thì, da khô, lông biến màu, ngón tay có đốm trắng, không thèm ăn, vết thương chậm lành, giảm vị giác, dễ bị mắc bệnh truyền nhiễm.

31. Bổ sung kẽm như thế nào?

Phương pháp bổ sung kẽm có hai loại: bổ sung bằng thức ăn và bổ sung bằng thuốc.

1. Bổ sung bằng thức ăn: Ăn các loại thực phẩm giàu kẽm như: gan, cá, thịt nạc, sữa bò, trứng, lạc, hạnh đào, các loại đậu.

2. Bổ sung bằng thuốc: Do có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hấp thu kẽm, nhất là những đứa trẻ lười ăn rất khó hấp thu được lượng kẽm cần thiết trong thức ăn, nên phải bổ sung bằng thuốc. Đưa trẻ tới bác sĩ chuyên khoa để khám và tư vấn điều trị đúng cách.

32. Trúng độc chì có những nguy hại nào?

Khi bị trúng độc chì không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển trí lực của trẻ mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thống thần kinh về tất cả các mặt như khả năng học tập và suy giảm các giác quan. Hơn nữa những ảnh hưởng này có thể là lâu dài. Độc tính của chì chủ yếu ảnh hưởng đến sự hình thành lớp vỏ đại não, ảnh hưởng đến trung khu khống chế học tập và hoạt động trí nhớ, làm cho khả năng phối hợp giữa tay và mắt chậm, tốc độ phản ứng với kích thích kém. Chì không những phá hoại sự hợp thành của hồng cầu, ảnh hưởng đến tuổi thọ của hồng cầu, gây nên “hiện tượng giả” thiếu máu do thiếu sắt, ảnh hưởng tới sự phát triển trí não của trẻ.

33. Phòng tránh trẻ bị nhiễm độc chì như thế nào?

Đối với những đứa trẻ bị nhiễm độc chì, nhờ trị liệu tuy có thể giảm hàm lượng chì trong cơ thể nhưng không thể đảo ngược tác dụng độc tính lên thần kinh đã phát sinh. Vì thế, phòng tránh trẻ trúng độc chì quan trọng hơn so với trị liệu.

Phòng tránh trẻ nhiễm độc chì, cần ngăn chì xâm nhập vào cơ thể trẻ, cần hình thành thói quen vệ sinh tốt trong cuộc sống cho trẻ, tránh tiếp xúc với chì. Đây là biện pháp hữu hiệu nhất ngắn trẻ bị nhiễm độc chì.

1. Hình thành thói quen thường xuyên rửa tay cho trẻ. Đặc biệt, trước khi ăn nhất định phải rửa tay.

2. Thường xuyên cắt móng tay cho trẻ. Vì móng tay dài là nơi chì dễ cư trú.

3. Thường xuyên rửa sạch đồ chơi của trẻ.

4. Những gia đình ở gần đường, giao thông tấp nập hoặc sân khu công nghiệp, nên thường xuyên dùng khăn ướt lau bụi ở những chỗ trẻ có thể sờ vào. Thực phẩm và bình sữa cần được vệ sinh sạch sẽ.

5. Không nên đưa trẻ đến nơi giao thông có lưu lượng xe lớn và chơi gần khu sản xuất chì.

6. Những người tiếp xúc trực tiếp với chì trước khi ngừng làm việc phải vệ sinh sạch sẽ theo quy định, sau khi thay quần áo mới được về nhà. .

7. Những gia đình đun than nên mở cửa thông gió.

8. Trẻ nên hạn chế ăn những thức ăn có hàm lượng chì cao như trứng muối bằng tro, bỏng ngô,….

9. Hàm lượng chì trong ống dẫn nước máy nhiều nơi sử dụng khá cao. Mỗi buổi sáng khi dùng nước máy nên mở cho vòi nước chảy khoảng 1-5 phút, bỏ số nước có thể đã bị nhiễm chì tích lại trong ống dẫn nước đêm qua đi.

10. Nên cho trẻ ăn đúng giờ, vì khi đói mức hấp thu chì trong ruột tăng.

11. Bảo đảm bữa ăn hàng ngày của trẻ có đủ canxi, sắt, kẽm.

34. Thiếu iốt sẽ gây những nguy hại gì? 

Iốt là một trong những nguyên tố vi lượng rất cho cơ thể. Tác dụng của iốt trong cơ thể người chủ yếu là tham gia hình thành hormon tuyến giáp. Hormon tuyến giáp xúc tiến sự hợp thành protein, thúc đẩy thai nhi sinh trưởng phát triển. Khi cơ thể thiếu iốt ở mức độ nhẹ, tuyến giáp trở thành bướu giáp (bệnh bướu cổ). Khi trẻ thiếu iốt, sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triả. Trẻ thiếu iốt thường có các biểu hiện: cơ thể thấp bé, gầy yếu, trí tuệ kém phát triển, thính lực và ngôn ngữ trở ngại, điếc hoặc nghễnh ngãng, thờ ơ, dáng vẻ đần độn, da khô. tóc rụng, sự phát triển về giới tính bị chậm, cơ quan sinh dục bị ảnh hưởng và trở nên vô sinh sau này.

35. Bổ sung iốt như thế nào?

Đối với hầu hết trẻ em, có thể thường xuyên cho ăn một số thức ăn giàu iốt như hải đới, tảo tía, sò, trai, cá biển. Những thức ăn chứa iốt khác như thịt, trứng, sữa, các loại gạo. Ngoài ra, do iốt dễ bay hơi, để tránh bị mất iốt trong muối khi nấu chín thức ăn, nên cho muối sau khi nấu xong thức ăn. Nấu ăn dùng muối iốt và ăn uống đều đặn đủ chất, lượng tốt đưa vào cơ thể cơ bản có thể đáp ứng được nhu cầu, không cần uống thuốc để bổ sung iốt. Thiếu iốt sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ, lượng tốt chứa trong thực vật và nước quả cao cũng sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ. Có nên bổ sung thêm iốt hay không? Tốt nhất hãy hỏi ý kiến của bác sĩ. Lượng dùng và mức độ điều trị căn cứ vào bệnh tình, tiến hành theo chỉ dẫn của bác sĩ.

36. Thế nào là béo phì? Người mắc bệnh béo phi có những biểu hiện gì?

Béo phì là kết quả của mỡ trong cơ thể tích luỹ quá nhiều, tỉ lệ mỡ trong cơ thể vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Biểu hiện là: Thể trọng tăng nhanh, cơ thể mập mạp nhưng không cân đối với chiều cao, hình dáng đẫy đà, tích nhiều mỡ dưới da, phân bố đều, thể hiện rõ nhất ở cổ, vai, ngực, vú, bụng, lưng, cánh tay, người quá béo, khiến da xuất hiện những hoa văn màu trắng hoặc màu tím; xương phát triển sớm, vận động khó khăn, không ưa hoạt đông, sau khi hoạt động ra nhiều mồ hôi, đứt hơi, khó thở; cân quá nặng, dẫn đến bệnh khớp, những chỗ da nhăn dễ bị tổn thương gây viêm da mãn tính,…

37. Trẻ béo phì có đặc tính gì?

Định nghĩa về béo phì của trẻ nhỏ cũng giống như người lớn, chỉ mỡ tích trong cơ thể quá thừa.

38. Làm thế nào để biết trẻ đã mắc bệnh béo phì?

Phán đoán trẻ có béo phì hay không, phương pháp kiểm tra thường dùng là tính cân nặng theo độ tuổi (so sánh cân nặng tiêu chuẩn của trẻ ở cùng độ tuổi, giới tính). Đây là phương pháp đơn giản. Một phương pháp thường dùng khác là tính cân nặng theo chiều cao, khi cân nặng/chiều cao lớn hơn 120% mức chuẩn thì là béo phì.

Vì cân nặng là tổng trọng lượng của tất cả các bộ phận trên cơ thể nên béo phì là do tổ chức mỡ tăng nhiều. Vì thế chỉ đơn thuần lấy cân nặng để phán đoán có béo phì hay không là không phù hợp với tất cả mọi người. Phương pháp chuẩn xác là đo độ dày của mỡ dưới da và tỉ lệ của tổ chức mỡ chiếm trong tổng trọng lượng để phán đoán mức độ béo. Phương pháp này khá phức tạp, vì vậy nên đến bệnh viện có để kiểm tra.

39. Trẻ em béo phì nên kiểm tra gì? 

+ Đo chiều cao – cân nặng là phương pháp cơ bản nhất

+ Kiểm tra lượng đường trong máu khi đói, lượng đường trong máu sau bữa ăn.

+ Hoá nghiệm mỡ trong máu. Có thể tìm hiểu xem có phải bị bệnh nhiễm mỡ máu không?

+ Kiểm tra glyxêrin xem có bị gan nhiễm mỡ không.

+ Kiểm tra chức năng thận sẽ giúp bác sĩ phát hiện u tuyến yên.

+ Kiểm tra kích tố sinh trưởng có thể thấy được quan hệ của tác dụng kích tố nam, nữ với bệnh béo phì.

+ Ngoài ra, cũng không nên xem thường việc thay đổi nhiệt độ, mạch, hô hấp, huyết áp.

40. Trẻ béo phì có những nguyên nhân nào?

1. Nhân tố di truyền. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, nếu cha mẹ béo phì, 70% con cái của họ có. nguy cơ béo phì. Nếu chỉ cha hoặc mẹ béo phì, 40% con cái của họ có nguy cơ béo phì. Cha mẹ không béo hoặc tạng người gầy chỉ chỉ có 10% con cái của họ có nguy cơ béo.

2 Hoạt động ít, lượng calo hấp thu vào quá cao. Nhiều người cho rằng “ăn càng nhiều càng tốt”, “ăn được càng nhiều càng khoẻ mạnh”. Cho con ăn mà không điều chỉnh những thức ăn có nhiệt lượng cao. Những đứa trẻ càng béo càng thích ăn đồ ngọt và đồ rán, vì thế cha mẹ cần cho con ăn khoa học, hình thành thói quen ăn uống tốt cho trẻ.

Hoạt động quá ít là nhân tố trọng yếu gây béo phì, hoạt động bình thường có thể tiêu hao 1/3 nhiệt lượng hấp thu. Hoạt động quá ít gây tích mỡ, lâu dần dẫn đến béo phì.

3. Nhân tố tâm lý, tinh thần. Có một số trẻ do quá ham thích về loại thực phẩm nào đó, nhìn thấy là ăn, ăn rồi còn muốn ăn tiếp. Điều này, luôn là do màu sắc hương vị của thực phẩm kích thích phản xạ thần kinh dẫn đến việc muốn ăn tăng lên. Đối với một số trẻ có sự bất ổn tâm lý, cũng có thể bị béo phì do lấy việc ăn uống làm niềm vui.

41. Béo phì có ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ không?

Béo phì là kẻ thù lớn của sức khoẻ, béo phì dẫn đến tăng dung lượng máu và nhịp đập của tim, gây đau tim. Một số lượng rất lớn người béo phì có thể mắc bệnh huyết áp cao, bệnh đau vành tim, bệnh đái tháo đường. Ngoài ra khi mắc bệnh béo phì sẽ bị amiđan to, lúc ngủ hay “ngáy” hoặc hô hấp khó khăn. Trẻ sơ sinh béo phì hoặc cơ thể tăng cân nhanh, có thể khiến sức đề kháng giảm, tỉ lệ cảm nhiễm đường hô hấp tăng. Trẻ ở độ tuổi nhi đồng hay bị xương đùi thoát vị, da bị tổn thương. Ngoài ra, trẻ béo phì thường không hiếu động, ít giao lưu với các bạn cùng trang lứa, tự ti, khó gần. Trẻ bị béo phì từ lúc còn nhỏ, sau khi trưởng thành càng dễ phát trở ngại tinh thần.

42. Béo phì có ảnh hưởng đến trí lực của trẻ không?

Mọi người thường cho rằng, trẻ khi sinh ra có thể trọng cao, đại não phát triển tốt, tương lai sẽ thông minh. Quan điểm này là chưa chính xác. Ngược lại, kết quả nghiên cứu khoa học phát hiện, chất xám của trẻ béo phì thấp hơn những trẻ có thể trong bình thường. Thị giác, thính giác, khả năng tiếp nhận, khả năng nắm bắt yếu điểm của trẻ béo phì không tốt bằng trẻ bình thường, khả năng tính toán trong học tập, mức độ tư duy nhạy bén thấp. Vì thế khả năng hoạt động, sức phân biệt, khả năng nhận thức sự vật không được như những đứa trẻ bình thường.

43. Trẻ béo phì ăn kiêng trị liệu như thế nào?

Dinh dưỡng quá thừa là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến trẻ bé phì. Chữa trị cho trẻ béo phì khác với người lớn. Trẻ ở giai đoạn cơ thể phát triển, bất kì phương pháp trị liệu quá mạnh nào cũng có thể ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ và sự phát triển, trưởng thành của trẻ. Đồng thời trẻ cũng khó phối hợp với bác sĩ thực hiện phương pháp trị liệu, vì thế phải có sự tham gia. mật thiết của cha mẹ mới có thể thực hiện được.

Cha mẹ yêu cầu cha mẹ nắm chắc các kiến thức như: không được để trẻ kén ăn, ăn quá nhiều. Hạn chế ăn những thức ăn có nhiệt lượng cao, lượng đường cao, lượng mỡ cao. Tiến hành ăn uống trị liệu cho trẻ cần nắm bắt đặc điểm dinh dưỡng của trẻ, đề ra liệu trình cho từng độ tuổi và thực đơn cho từng giai đoạn. Vừa hạn chế đưa vào cơ thể trẻ quá nhiều nhiệt lượng, vừa phải đảm bảo nhu cầu cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển, khiến thức ăn đa dạng, đầy đủ vitamin, giảm thiểu những thức ăn có chứa đường, ăn ít thức ăn có mỡ, có thể tăng thức ăn giàu protein như chế phẩm từ đậu, thịt nạc,… Nên tránh việc hạn chế dinh dưỡng cực đoan, nếu không sẽ tạo thành sức ép tâm lý cho trẻ, gây tâm lý chống đối việc trị liệu, không đạt được hiệu quả giảm béo.

Nguyên tắc ăn giảm béo của trẻ là: Không gây trở ngại cho việc sinh trưởng phát triển; không ảnh hưởng đến học tập sinh hoạt; không ảnh hưởng đến sở thích của trẻ.

44. Trẻ béo phì tiến hành liệu pháp vận động như thế nào?

Liệu pháp vận động có thể giúp tiêu hao năng lượng, và cải thiện quá trình oxy hoá của mỡ, như liệu pháp ăn uống khoa học kết hợp với vận động hợp lý, có thể phát huy hiệu quả rất rõ rệt.

Liệu pháp vận động cần nắm bắt nguyên tắc tuần tự, phân chia giai đoạn tiến hành, không được yêu cầu trẻ chuyển từ cách sống không thích vận động sang trạng thái vận động khá mạnh, như thể gây ảnh hưởng không tốt cho trẻ. Vận động không hợp lý sẽ khiến chức năng của hệ thống huyết quản tim, hệ thống thần kinh tự chủ mất cân bằng. Việc lựa chọn phương thức vận động khôn thiết phải là vận động nặng. Đạp xe, bơi, chèo thuyền, trượt băng, đi dã ngoại, gấp chăn, quét nhà, lau bàn, rửa bát… đều có thể làm nội dung vận động. Hơn nữa phải kiên trì và phối hợp với biện pháp ăn uống, ít ăn vặt, ăn đúng giờ, ăn những thức ăn giàu vitamin, rau xanh,… mới có thể đạt được hiệu quả giảm béo mong muốn,

45. Trẻ béo phì có thể lựa chọn thuốc giảm béo không?

Đối với những trẻ béo phì, không nên trị liệu bằng thuốc mà lấy liệu pháp ăn uống, vận động làm chủ. Nếu là béo phì ở mức độ nghiêm trọng thì có thể dùng thuốc.

Thuốc giảm béo chủ yếu là thuốc ức chế thèm ăn và nhiều loại thuốc khác. Dù sử dụng loại thuốc giảm béo nào cũng đều phải dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.

46. Trị liệu tâm lý cho trẻ béo phì có cần thiết không?

Trị liệu tâm lý cho trẻ béo phì rất cần thiết, thậm chí còn hiệu quả hơn những liệu pháp khác. Vì sự phát triển tâm lý của trẻ đang ở thời kỳ dễ điều chỉnh, có thể thông qua tâm lý trị liệu, thay đổi thói quen ăn uống không tốt của trẻ. Có thể lựa chọn những phương pháp dưới đây:

1. Tiến hành giáo dục sức khoẻ, tổ chức trại hè mời chuyên gia giảng dạy những kiến thức liên quan đến bệnh béo phì. Từ đó giúp trẻ có ý thức tự giác, tự nguyện, tiếp nhận và phối hợp trị liệu.

2. Dạy trẻ thói quen ăn uống khoa học, bỏ những thói quen xấu như bạo ăn bạo động, phàm ăn, ăn vặt… 

3. Cổ vũ trẻ vận động nhiều, tập luyện nhiều, không được ăn xong là ngủ, không được xem tivi khi ăn, vận động phù hợp sau khi ăn.

4. Khích lệ trẻ khắc phục tâm lý tự ti, chủ động giao lưu với bạn bè, không sợ bị chế giễu, tích cực vận động, tham gia giảm béo, kiên trì đến cùng, không được nản trí.

47. Nguyên nhân gây bệnh béo phì có liên quan gì đến thói quen ăn uống không tốt?

Có thể nói, phần lớn một số trẻ béo phì là do thói quen ăn uống không tốt, ví dụ:

1. Thích ăn đồ ngọt, đồ rán.

2. Thích uống canh và đồ uống. Không thích ăn thức ăn giàu chất xơ.

3. Ăn nhiều, uống nhiều, ăn vặt luôn miệng. 

4. Sau khi ăn đi nằm luôn, không vận động.

5. Thích ăn đêm.

Những vấn đề trên đây cần được điều chỉnh thật nghiêm túc, mới có thể giúp trẻ tránh phát sinh và phát triển béo phì. 

48. Béo phì có thể dự phòng không?

Bệnh béo phì là bệnh có thể dự phòng. Hơn nữa cần dự phòng sớm mới có thể thu được hiệu quả tốt.

1. Dự phòng bệnh béo phì nên bắt đầu từ sớm, từ thời kỳ thai nhi. Vì ở thời kỳ mang thai, nhất là thời kì cuối mang thai, bà mẹ bồi bổ quá nhiều trọng lượng thai quá lớn, không những gây nguy hiểm khi sinh, mà còn trở thành nhân tố gây béo phì sau này.

2. Nên cho trẻ bú sữa mẹ. Trẻ bú mẹ sẽ không dễ bị béo phì. Sữa mẹ là thức ăn thiên nhiên tốt nhất cho trẻ. Lượng sữa mẹ tiết ra thường đủ cho nhu cầu của trẻ trong 4 tháng, không cần cho ăn thêm sữa ngoài. Không nên cho trẻ ăn quá nhiều, ăn đủ, tăng cân bình thường là thích hợp nhất, ăn quá nhiều ngược lại còn có hại cho sức khoẻ của trẻ.

3. Trẻ ở độ tuổi nhi đồng, thanh thiếu niên cần có chế độ ăn uống bình thường và bồi dưỡng thói quen ăn uống khoa học, có chế độ ăn hợp lý. Nếu gia đình có di truyền bệnh béo phì, cần tránh cho trẻ ăn đồ ngọt, cho trẻ ăn ít đồ rán…

4. Khích lệ trẻ tập thể dục thể thao và rèn luyện thân thể. Hình thành thói quen thích vận động, kiên trì liên tục, không được luyện tập ngắt quãng.

5. Loại bỏ những nhân tố dẫn đến trẻ bị béo phì. Cấm trẻ ăn quá nhiều đồ ăn nhanh, đồ ngọt, khắc phục thói quen ăn uống như ăn quá no, ép buộc trẻ phải ăn, dỗ cho trẻ ăn nhiều. Có một số cha mẹ không để trẻ hoạt động, thích để trẻ ngồi yên, xem tivi, ngồi máy tính lâu, vì cho rằng học tập đã là vất vả…, những điều này đều là cách sống không tốt. Điều chỉnh những hành vi ăn uống không đúng: Cách ăn không đúng, thói quen ăn không tốt, không đói cũng ăn, phàm ăn. Vận động thể dục ít, sợ học môn thể dục, lượng vận động ít. Điều chỉnh quan niệm sai lầm của cha mẹ “ăn được là tốt”, sơ con ăn không no, ngộ nhận béo phì là “khoẻ mạnh”, béo phì là “phú quý”.

6. Tăng cường giáo dục sức khoẻ, phổ cập kiến thức dinh dưỡng.

49. Trong khi chữa bệnh béo phì cho trẻ cần chú ý điều gì?

1. Thời kỳ nhi đồng tốt nhất không dùng cách “giảm béo”, “giảm cân”, mà gọi là “khống chế tăng cân” thì đúng hơn. Điều này cũng khiến cha mẹ, con cái dễ tiếp nhận hơn về mặt tâm lý.

2. Tỉ lệ tăng cân nên khống chế trong phạm vi bình thường, thúc đẩy sinh trưởng phát triển.

3. Cấm dùng thuốc giảm béo, giảm cân. Dùng thủ thuật giảm béo càng không thích hợp với trẻ.

4. Đề cao khả năng vận động, tăng cường thể chất, đề cao sức khoẻ.

5. Lựa chọn phương án khống chế tăng cân tổng hợp, bao gồm khống chế ăn uống, tăng vận động, bồi dưỡng thói quen sinh hoạt tốt. Khi cần có thể dùng thêm thuốc điều trị, nhất định phải tiến hành dưới sự hướng dẫn của bác sĩ.

50. Bệnh mẩn ngứa có ảnh hưởng gì tới sức khỏe của trẻ?

Bệnh mẩn ngứa ở trẻ là một hiện tượng viêm cấp tính hoặc mạn tính trên da. Nguyên nhân gây bệnh khá phức tạp chủ yếu có liên quan tới dị ứng, dân gian gọi là “nấm sữa”, hay phát sinh ở trẻ từ 2 tháng tuổi đến 2 tuổi. Bệnh mẩn ngứa này là những nốt đỏ chủ yếu phân bố ở những chỗ như đầu, mặt, gò má, trán, da đầu của trẻ, bề mặt có vảy bong ra. Còn có thể có mấn mụn đỏ hoặc nước nhỏ mọc trên bề mặt nốt đỏ và xung quanh nốt. Bề mặt nốt đỏ bị loét, chảy nước đóng vảy. Số ít trẻ không những bị mọc mẩn ngứa ở đầu, mà còn mọc lan xuống cổ, vai, thậm chí mọc cả người, tứ chi và ở các chỗ nhưng giữa mặt, xung quanh mũi, miệng và lông mày không bị mọc. Mẩn mụn ngứa rất ngứa, do đó trẻ thường khó chịu, khóc lóc. Nếu bị viêm nặng hơn có chỗ còn sưng hạch khá to. Nhiều mụn ngứa hay mọc vào mùa hè có thể tự khỏi dần dần, một số ít trẻ bị kéo dài đến tuổi nhi đồng, thậm chí đến tuổi thanh thiếu niên.

…(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *