118 lượt xem

150 câu hỏi về sức khỏe của bé (P5)

81. Bệnh viêm V.A của trẻ có biểu hiện như thế nào?

Bệnh viêm V.A rất phổ biến ở trẻ, đặc biệt là trẻ từ 4 – 7 tuổi, đôi khi dưới 4 tuổi và trên 10 tuổi. Một số bệnh truyền nhiễm khác phổ biến (bệnh sởi, sốt phát ban, ho gà, cúm) cũng gây nên viêm niêm mạc mũi họng, sưng amiđan và cả những bệnh viêm đường hô hấp cấp tính và mạn tính.

Khi trẻ bị viêm V.A, trẻ khó thở bằng mũi, chảy nước mũi và nước mũi thường chảy xuống họng. Trẻ ngủ miệng há ra, giấc ngủ không yên, có tiếng khò khè. Khi trẻ bị viêm V.A nặng tiếng nói bị khan, thính giác giảm, sổ mũi nặng. Giảm thính giác theo chu kỳ, ủ rũ và kém ăn khiến trẻ trở nên thờ ơ, lơ đãng, sức tập trung trí óc giảm. Do khó thở bằng mũi nên trẻ thường xuyên phải thở bằng miệng, miệng luôn há ra khiến cằm bị trễ. Ở trẻ lớn tuổi hơn, có thể thường xuyên bị đau đầu. Thời gian khó thở bằng mũi kéo dài có thể làm xương lồng ngực phát triển không bình thường. Do thở phải không khí không được lọc qua đường mũi, nên trẻ dễ bị viêm họng, viêm phế quản. Hiện tượng ứ huyết, rối loạn thông khí ở xoang mũi gây viêm xoang.
Chữa các chứng viêm V.A thường phải dùng phẫu thuật. Do vậy các gia đình nên đưa trẻ đi viện để sớm chữa trị. 5 – 7 ngày sau khi mổ, trẻ phải tuân theo một chế độ đặc biệt: không được dùng thức ăn thô, nóng, cay, chua, mặn và chocolate, không được chơi các trò chơi năng động, không được ra nắng. Để phòng tránh viêm V.A, cần chữa trị kịp thời các bệnh đường hô hấp, rèn luyện thân thể.

82. Có những nguyên nhân nào gây nên hiện tượng tiêu chảy ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ?

Có rất nhiều nguyên nhân gây nên bệnh tiêu chảy ở trẻ sơ sinh. Những nguyên nhân thường gặp là:

Viêm nhiễm trong đường ruột
Đối với trẻ sơ sinh, nhất là những trẻ nuôi bằng sữa ngoài, nếu việc sát trùng bình sữa và núm vú không được kỹ càng hoặc sữa , đường trắng mà trẻ ăn vào không được sạch sẽ, thì trẻ rất dễ bị nhiễm vi trùng hoặc virus gây nên tiêu chảy. Vào mùa hè, mùa thu, vi trùng, virus dễ sinh sôi phát triển, sữa bò, thức ăn và dụng cụ đựng sữa bảo quản không tốt sẽ dễ bị nhiễm bẩn. Vì vậy, nguy cơ gây tiêu chảy tương đối nhiều.

Viêm nhiễm ngoài đường ruột
Các khí quan khác bị viêm nhiễm cũng dẫn đến tiêu chảy, thường thấy các bệnh như viêm tai giữa, viêm họng, viêm hệ thống tiết niệu, viêm da và bệnh truyền nhiễm cấp tính khác. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như: phát sốt và chịu ảnh hưởng độc tố của các sinh vật gây bệnh có thể làm rối loạn chức năng tiêu hóa, gây nên tiêu chảy.

Việc nuôi dưỡng trẻ không hợp lý
Nuôi dưỡng không hợp lý là một trong những nguyên nhân gây nên tiêu chảy. Phần lớn hay xảy ra ở các trường hợp nuôi bằng sữa ngoài. Tất cả các yếu tố như: cho trẻ ăn quá no, quá ít, ăn không theo thời gian quy định nào, thành phần thức ăn không thích hợp, cho trẻ ăn bột, ăn cơm hoặc ăn chất béo quá sớm và đột nhiên thay đổi chủng loại, tính chất thức ăn không phù hợp và đột ngột cắt sữa đều có thể dẫn đến rối loạn chức năng tiêu hóa mà gây tiêu chảy. Cá biệt có trẻ sơ sinh quá mẫn cảm hoặc không chịu được sữa bò hoặc một số thành phần thức ăn nào đó, sau khi ăn vào có thể bị tiêu chảy.

Ảnh hưởng khí hậu
Khí hậu quá nóng, mồ hôi ra nhiều, men tiêu hóa và lượng axit trong dạ dày tiết ra bị giảm đi, chức năng của đường ruột dạ dày bị suy giảm cũng làm ảnh hưởng đến việc tieu hóa thức ăn của trẻ. Khí hậu chuyển lạnh nhưng lại không giữ ấm cho phần bụng và xương cụt sẽ làm cho sức nhu động của đường ruột tăng lên, đều có khả năng gây tiêu chảy.
Nhân tố tinh thần
Trẻ khóc quá nhiều, tâm trạng căng thẳng khiến thần kinh thực vật rối loạn, làm mất điều hòa nội tiết tuyến tiêu hóa và chức năng hoạt động của dạ dày, đường ruột cũng có thể gây nên tiêu chảy.

83. Tiêu chảy có ảnh hưởng gì tới trí tuệ của trẻ?

Theo một nghiên cứu kéo dài 14 năm của Mỹ, trẻ nhỏ bị tiêu chảy tái diễn sẽ kém phát triển trí tuệ khi trưởng thành. Nguyên nhân có thẻ là cơ thê của trẻ bị bệnh không thê hấp thụ được một số chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển trí não.

Nghiên cứu được tiến hành tại một thị trấn nghèo của Brazil, do các nhà khoa học đến từ Đại học Tổng hợp Virginia (Mỹ) thực hiện. Họ đã theo dõi sự phát triển của hàng tram trẻ nhỏ sống ở đây trong vòng 14 năm và nhận thấy, những em bị tiêu chảy thường thẻ hiện dấu hiệu chậm phát triển trí tuệ vào năm 10 tuổi. Theo đó, cách tốt nhất để dự đoán khả năng học tập của trẻ sau này dựa vào số lần bị tiêu chảy trong 2 năm đầu đời.
Chứng tiêu chảy tái diễn từ lâu đã được biết là gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển về thể chất, song đây là lần đầu tiên xuất hiện bằng chứng về mối liên quan giữa bệnh này với hoạt động trí não.
Các nhà khoa học cho biết, bệnh tiêu chảy sẽ dẫn đến tình trạng kém ăn và mất nước nghiêm trọng ở trẻ. Hiện nay, nguyên nhân gây kém phát triển trí tuệ do bệnh tiêu chảy vẫn đang được tiếp tục làm rõ. Tuy nhiên, nghiên cứu này là một lời cảnh báo cho các bậc cha mẹ, trong việc phòng trị tiêu chảy cho trẻ.

84. Biểu hiện của bệnh tiêu chảy ở trẻ như thế nào?

Biểu hiện lâm sàng của bệnh tiêu chảy ở trẻ sơ sinh nặng nhẹ không giống nhau. Những trẻ bệnh nhẹ phần lớn là do việc nuôi nấng không hợp lí hoặc do mắc các bệnh viêm nhiễm khác dẫn đến. Khi phát bệnh có thể bị từ từ. Biểu hiện là số lần đi đại tiện tăng lên nhiều, nhìn chung là mỗi ngày 10 lần, phân có màu vàng hoặc màu xanh, dạng lỏng loãng hoặc đi giống như hoa cải, có lẫn một ít chất nhầy hoặc cục nhờ trắng, có mùi tanh. Trước khi đi đại tiện thường ấm ách không yên, mặt trắng bệch, bụng sôi, sau khi đi đại tiện xong thi tương đối yên. Trẻ bị bệnh không có triệu chứng bị trúng độc, tinh thần tươi tỉnh, thỉnh thoảng bị buồn nôn, nôn mửa, kém ăn, nhiệt độ cơ thể bình thường hoặc sốt nhẹ, không có triệu chứng mất nước.

Trẻ bị nặng, phần lớn là trẻ bị viêm trong đường ruột. Bệnh phát ra khá cấp tính, số lần tiêu chảy trên mười mấy lần, phân đi như nước, có lẫn dịch nhầy lượng nhiều, mùi tanh khẳn. Trẻ bị bệnh thường kém ăn, buồn nôn, nôn mửa. Trẻ bị nặng có thể nôn ra bã thức ăn hoặc dung dịch màu xanh vàng, sốt thất thường, có lúc sốt cao, tinh thần ủ rũ, háo ngủ, khi nặng có thể bị lả đi, hôn mê. Do nôn mửa và tiêu chảy làm mất đi một lượng lớn nước và muối, bệnh nhân thường bị mất nước và trúng độc axit. Biểu hiện của sự mất nước là da khô nóng, mắt trũng và thóp trước lõm xuống, khóc không có nước mắt, môi khô, lượng nước tiểu giảm, chân tay, tinh thần ủ rũ, vẻ thờ ơ, ngủ mê mệt thậm chí hôn mê. Biểu hiện của sự trúng độc axit là : môi đỏ, thở dài và sâu.

85. Cách chữa trị và chăm sóc khi trẻ bị tiêu chảy như thế nào?

Đối với những trẻ bị tiêu chảy nhẹ do ăn uống không hợp lý gây nên thì không được dùng thuốc mà nên áp dụng biện phấp điều chỉnh và hạn chế ăn uống, để giảm nhẹ gánh nặng của đường tiêu hóa là có thẻ giúp chức năng của dạ dày, đường ruột trở lại bình thường. Có thể dùng men sữa tươi, men tiêu hóa… để trợ giúp tiêu hóa. Thường xuyên áp dụng liệu pháp mát xa cột sống cũng có tác dụng giúp cho bệnh khỏi. Nếu tiêu chảy nặng cần đưa đến bệnh viện chữa trị.

Công tác chăm sóc căn bệnh này rất quan trọng. Cần thường xuyên thay tã, vải tã phải mềm, dễ thấm nước. Sau mỗi lần đại tiện xong phải dùng nước sạch để rửa hậu môn, lấy khăn lau khô, để chống bị hăm da hậu môn và viêm đường tiết niệu trên. Cần chú ý lau sạch sẽ cho những trẻ bị nôn mửa nhiều lần. Phải thường xuyên trở mình cho trẻ, đề phòng trẻ bị viêm phổi có tính kế phát. Cần cho trẻ uống nhiều nước và tiếp nước muối.

86. Điều chỉnh việc ăn uống của trẻ bị tiêu chảy như thế nào?

Sau khi trẻ sơ sinh bị tiêu chảy, việc điều chỉnh chế độ ăn uống và hạn chế ăn uống giúp cho việc khôi phục chức năng đường ruột, dạ dày nhanh hơn.
Đầu tiên phải nghĩ ngay đến ORS (OralRehydratationSolution: dung dịch bù nước bằng miệng). Đây là dung dịch để bù nước và chất điện giải tốt nhất, được sản xuất trong nước dưới dạng gói bột và được bán không cần đơn tại các nhà thuốc Tây.

Không nên cho trẻ ăn bình thường ngay mà cho trẻ ăn dần dần ít một và điều chỉnh theo khả năng tiêu hóa của đường ruột. Khi cho trẻ ăn trở lại bình thường, nếu trẻ vẫn còn bú sữa mẹ, lúc đầu nên rút ngắn thời gian cho trẻ bú mỗi lần. Bú xong, vắt bỏ hết sữa còn lại trong vú (vì lượng sữa còn lại đặc, nhiều chất béo, khó tiêu hóa). Nên cho trẻ bú thưa và cho uống thêm nước muối đường giữa các lần bú (mỗi bát nước có thể pha thêm một ít muối hoặc pha thêm một ít hydro carbonat natri (NaHCO3)). Những trẻ bị tiêu chảy nặng có thể chỉ tạm ngừng 1 – 2 lần bú sữa và uống, thay bằng nước gạo rang càng dễ tiêu hóa nhưng không được cho ăn thêm quá mức, để trách gánh nặng cho dạ dày và đường ruột. Các biện pháp trên không được thực hiện trong thời gian quá dài. Sauk hi trẻ hết tiêu chảy cần cho trẻ ăn uống đầy đủ để đảm bảo dinh dưỡng.

Những trẻ phải nuôi bằng sữa ngoài có thể cho uống nước cháo trước, sau đó hòa loãng nước cháo với sữa bò (một phần sữa pha lẫn với một phần nước cháo hoặc nước cơm). Có thể tăng dần tỷ lệ sữa bò tùy theo sự thuyên giảm của bệnh tình, rồi cho trẻ ăn dần trở lại bình thường. Những gia đình có điều kiện, lúc đầu có thể cho trẻ ăn sữa tách bơ hoặc sữa chua hoặc cho sữa bò vào đun sôi, hớt bỏ lớp váng sữa nổi trên bề mặt sữa, giúp ích cho trẻ dễ tiêu hóa. Nếu cho trẻ ăn hốn hợp, lúc đầu có thể cho trẻ uống nước cháo hoặc nước cơm trước, sau đó mới cho uống sữa bò. Có thể cho trẻ uống thêm sữa đậu nành hoặc các chế phẩm khác từ sữa đậu như tào phớ, tùy theo sự đỡ dần của bệnh.

87. Khi chăm sóc trẻ bị tiêu chảy cần chú ý những gì?

Tiêu chảy gây mất nước và một số chất điện giải như natri, kali…; sau tiêu chảy, trẻ em thường bị suy dinh dưỡng. Trong quá trình chăm sóc, cha mẹ cần tránh chú ý:
Không nên cho trẻ uống các loại xúp công nghiệp. cũng không dùng các loại nước hoa quả, giải khát quá ngọt sẽ gây tiêu chảy thẩm thấu.

Trong thời gian trẻ bị tiêu chảy, không được bắt trẻ nhịn ăn quá mức mà ngược lại phải đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ; trẻ còn bú mẹ thì tiếp tục cho bú bình thường; trẻ dưới 6 tháng tuổi nuôi bằng sữa bò thì pha loãng sữa bằng một lượng nước gấp đôi bình thường trong hai ngày, sau đó pha như thường lệ trong suốt thời gian bệnh. Những trẻ đã ăn dặm thì nấu kỹ thức ăn, nhuyễn và hơi lỏng hơn bình thường, cứ 3 – 4 giờ cho trẻ ăn một lần, chia làm 6 bữa trong ngày.

Không nên hạn chế việc bú sữa mẹ của trẻ, nếu trẻ vì mệt không muốn bú mẹ, tốt nhất là vắt sữa vào một cốc sạch (đã khử trùng) để cho trẻ uống. Bên cạnh đó, người mẹ không được kiêng dầu, mỡ quá lâu. Vì thức ăn của người mẹ có mỡ sẽ làm tăng hấp thụ vitamin A, D, E, K.
Không nên cho trẻ uống các loại nước giải khát công nghiệp có ga và nhiều đường, các loại thực phẩm có nhiều chất xơ, ít chất dinh dưỡng như: đỗ, ngô và các loại rau có nhiều chất xơ, các loại thức ăn có nhiều đường như bánh, kẹo và các thức ăn chế biến sẵn như: giò, chả, xúc xích, patê…

Nếu trẻ bị tiêu chảy kèm theo biểu hiện như: mất nước, mắt hõm sâu, miệng khô, khát nước, khóc không thấy nước mắt, tiểu tiện ít, không muốn ăn và uống nước, nôn mửa nhiều lần, trong 1 – 2 giờ đồng hồ đại tiện ra nước nhiều lần, trong phân có máu thì ngay lập tức phải đưa đến viện cấp cứu vì trẻ đang bị đe dọa tính mạng.
Nhiều bà mẹ không dám cho trẻ ăn sữa chua vì sợ ruột bị bào mòn: trên thực tế, sữa chua làm giảm thời gian và độ nặng của đợt tiêu chảy, do quá trình lên men đã chuyển phần lớn đường lactose (loại đường khó hấp thụ) trong sữa bò sang một dạng dễ hấp thụ hơn.

Ngoài ra, một số chủng vi khuẩn trong sữa chua có khả năng ức chế sự phát triển và gây bệnh của các vi sinh vật có hại trong đường tiêu hóa, tăng cường hoạt động của hệ thống miễn dịch.

88. Thế nào là đại tiện bình thường?

Thông thường thì các trẻ trong độ tuổi 1 – 4 sẽ đại tiện từ 1 – 2 lần/ngày. Tuy nhiên, có trẻ đi cầu 3 lần/ngày, ngược lại có trẻ đi cầu không theo ngày nào cả có khi 3 ngày mới đi một lần. Tất cả các hiện tượng trên đều được coi là bình thường.
Kích thước và lượng chất thải của các trẻ cũng rất khách nhau, phụ thuộc vào những gì trẻ ăn uống hằng ngày.

89. Chứng táo bón ở trẻ nhỏ có biểu hiện nào?

Dấu hiệu trẻ bị táo bón:
Trẻ tỏ ra rất khó khan khi đại tiện.
Có cảm giác đau khi đi đại tiện, có thể cảm nhận qua hành động ngại đi cầu, ngồi nhón chân của trẻ.
Chất thải (phân) rất cứng và khô.

90. Nguyên nhân gây ra táo bón là gì?

Không đủ năng lượng và chất xơ trong chế độ dinh dưỡng là nguyên nhân phổ biến nhất.
Nứt hậu môn: vết nứt hậu môn là vết rạn trên da ở bờ hậu môn và điều này làm cho việc đại tiện gây ra đau đớn và trở thành cực hình đối với trẻ.
Thường thì chứng táo báo xuất hiện sau khi trẻ trải qua một thời gian viêm nhiễm, không khỏe. Trong khi bị ốm, trẻ thường không uống đủ lượng nước cần thiết khiến chất thải trở nên rắn và rất khó thải ra. Những chất thải này sẽ gây xước hậu môn là nguyên nhân gây ra bệnh nứt hậu môn.

Thêm vào đó, nỗi sợ tolet bẩn cũng góp phần dẫn tới chứng táo bón.
Bị rối loạn tiêu hóa, chẳng hạn như tiêu chảy cũng khiến hệ tiêu hóa còn non của trẻ mất cân bằng và không thể tự kiểm soát, kết quả là dẫn tới chứng táo bón. Đây có thể là do trẻ lo lắng sợ ị ra quần.
Rối loạn cảm xúc cũng được xem là một nguyên nhân của táo bón nếu trẻ sống trong bầu không khí gia đình thường xuyên căng thẳng.
Việc điều trị bằng thuốc men thường không gây ra chứng táo bón ở trẻ nhỏ (dù có thể gây tao bón cho người lớn) nhưng đôi khi một số loại siro ho có thể gây ra hiện tượng này.
Dị ứng với sữa bò thường được chẩn doán trong hầu hết các trường hợp rối loạn đường ruột ở trẻ nhỏ. Với một số trẻ, nó có thể gây ra hiện tượng táo bón. Nếu ai đó trong gia đình từng bị hen suyễn hoặc chàm bội nhiễm thì cũng có thể nghĩ tới nguyên nhân dị ứng sữa.

Chứng táo bón đôi khi xảy ra khi một đứa trẻ sơ sinh chuyển từ bú mẹ sang uống sữa bò hoặc sữa công thức. Ăn uống không đủ, sau khi đã tiêu hóa thì lượng bã thải còn lại ít, tự nhiên làm mất đi một lượng phân. Nếu ăn sữa bò trong một khoảng thời gian dài, do hàm lượng protein trong sữa bò khá cao mà lượng đường lại ít khiến trong phân có tính kiềm. có thẻ làm cho phân bị khô.
Do ít hoạt động, thường xuyên nằm trên giường làm khả năng co bóp của đường ruột dạ dày kém, khiến phân lưu lại trong ruột khá lâu, có thể dẫn đến táo bón.
Sinh hoạt không có nè nếp, đi đại tiện không đúng giờ, khó tạo thành phản xạ có điều kiện khi đi đại tiện.
Do mắc một số bệnh như còi xương, suy dinh dưỡng, kết tràng lớn hậu môn, sốt… đều có thể gây ra táo bón.

91. Giúp trẻ bị táo bón như thế nào?

Cần trao đổi với bác sĩ về tình trạng của trẻ nếu trẻ dưới 1 tuổi.
Khi trẻ trên 1 tuổi, bạn có thể thử một trong các cách sau:
Khuyến khích trẻ uống thật nhiều nước nhưng không nên uống nước ngọt và nước có ga bởi vì chúng sẽ làm hỏng men răng.

Khuyến khích trẻ uống nhiều loại nước: nước trắng, nước hoa quả pha loãng và sữa (ở một số trẻ, uống quá nhiều sữa cũng có thể gây tác dụng ngược, làm cho tình trạng táo bón nặng thêm).
Với trẻ 4 – 6 tuổi sống ở vùng ôn đới, lượng nước cần uống mỗi ngày là 1,5 lít/ngày, từ 7 tuổi trở lên uống 2 lít/ngày trở lên. Tất nhiên, trẻ sống ở vùng khí hậu nhiệt đới cần uống nhiều nước hơn.

Tăng lượng chất xơ trong chế độ dinh dưỡng.
Hãy giải thích vói trẻ rằng bạn cần phải thay đổi chế độ dinh dưỡng để trẻ dễ đi đại tiện hơn nhưng không nên tạo ra quá nhiều sự khác biệt với chế độ ăn của cả nhà. Tốt nhất là cả gia đình cũng ăn những thực phẩm đó và cố gắng ăn 5 loại rau quả/ngày.
Đừng vội hạn chế hoặc thay đổi sữa trong chế độ dinh dưỡng của trẻ mà không trao đổi trước với bác sĩ bởi nó có thể dẫn tới việc thiêu hụt dinh dưỡng.

Ăn sáng sớm: đối với nhiều trẻ, bữa sáng có tác dụng kích thích nhu động ruột. Nếu ăn sáng sớm, trẻ có nhiều thời gian để đi cầu ngay tại nhà thay vì đến trường (bởi nhiều trẻ rất ngại đi cầu ở trường).
Nên cho trẻ ngồi bô riêng thay vì ngồi bồn cầu người lớn bởi ngồi thẳng , hai chân chạm đất sẽ giúp trẻ đi cầu dễ dàng hơn.
Đừng cho trẻ uống thuốc nhuận tràng nếu không có chỉ định của bác sĩ.

92. Khi nào cần tới bác sĩ?

Nên đưa trẻ đi khám bác sĩ nếu trẻ dưới 1 tuổi. Nếu trẻ lớn hơn, bạn nên cố gắng tìm nguyên nhân tại sao trẻ bị táo bón và thử điều chỉnh. Khi tình trạng không chuyển biến, lúc đó mới cần tới sự tư vấn của bác sĩ.
Trẻ bị táo bón có thể làm bạn vô cùng nản lòng khi liên tục lấy bô mà trẻ không ị. Nhưng táo bón không phải là lỗi của trẻ và càng không phải là sự cố ý. Điều quan trọng là phải hết sức kiên nhẫn. hãy nghĩ rằng thế nào trẻ cũng phải ị bớt chất thải sẽ tích đầy trong bụng và trẻ sẽ có cảm giác muốn đi cầu. Khi đó, thậm chí bạn còn phải hỗ trợ trẻ bằng cách ngâm hậu môn trẻ trong nước ấm tỷ lệ 1 mật ông 3 nước để kích thích phản xạ đi cầu của trẻ.

93. Trẻ suy dinh dưỡng có những biểu hiện gì?

Trẻ bị suy dinh dưỡng thường có những biểu hiện chính sau: trọng lượng cơ thế thường không tăng hoặc giảm cân, lớp mỡ dưới da teo dần đi hoặc không còn, người cứ gầy dần đi, chậm lớn hoặc không lớn, chức năng nhiều cơ quan trong cơ thể bị kém hẳn đi. Biểu hiện lâm sàng có thể tùy theo mức độ nặng nhẹ khác nhau mà chia ra thành 3 mức suy dinh dưỡng của trẻ dưới 3 tuổi gồm:
Trẻ suy dinh dưỡng ở mức độ nhẹ, trọng lượng cơ thể thấp hơn trẻ bình thường từ 15 – 25%. Chiều cao vẫn bình thường. Lớp mỡ dưới da ở phần bụng và ngực, lưng mỏng, nhẽo. Sắc mặt bình thường hoặc hơi trắng xanh. Sự thay đổi chức năng của các cơ quan không rõ ràng. Trạng thái tinh thần bình thường.

Trẻ bị suy dinh dưỡng nặng. Trọng lượng cơ thể nhẹ hơn trọng lượng cơ thể bình thường 25 – 40%. Chiều cao thấp hơn trẻ bình thường. Phần bụng và cơ thẻ hầu như không có chút mỡ nào. Vai và mặt nhô ra, da bệch mà khô, độ căng kém, cơ tóp mà nhão, kém ăn, sức tiêu hóa kém hẳn, thường kèm theo tinhd trạng rối loạn chức năng tiêu hóa, lờ đờ. Không có hứng thú với những hoạt động xung quanh, thường hay khóc, ngủ không yên, chức năng vận động phát triển chậm.
Trẻ bị suy dinh dưỡng nghiêm trọng (còn gọi là chứng khô héo), có trọng lượng cơ thể thấp hơn trọng lượng trẻ bình thường trên 40%. Chiều cao thấp hơn hẳn trẻ bình thường. Người gầy tóp, cơ thịt khô héo, da trơ đầu xương mặt nhăn nheo, hốc mắt lõm sau, da bệch khô, không có độ căng, có lúc còn có vẻ tím tái. Nhiệt độ cơ thể thường thấp hơn bình thường, tứ chi lạnh, thở yếu, chậm, tiengs tim khẽ, đập chậm, kém ăn hoặc không muốn ăn, hay bị tiêu chảy do đói, có lúc cũng có thể bị táo bón hoặc bị tiêu chảy, táo bón lẫn lộn. Phản ứng đối với bên ngoài kém, tinh thần ủ rũ, vẻ ngoài lờ đờ, có lúc khóc nhiều, tiếng khóc khản rè. Trí lực phát triển kém, thường hay bị phù thũng do bị thiếu blood glucose, dễ măc bệnh viêm nhiễm.

94. Vì sao trẻ bị suy dinh dưỡng?

Suy dinh dưỡng ở trẻ là một chứng bệnh thiếu dinh dưỡng mạn tính, thường phát sinh ở trẻ dưới 3 tuổi. Suy dinh dưỡng có hai nguyên nhân chủ yếu sau:
Nuôi dưỡng không đầy đủ: Trẻ lớn nhanh, đòi hỏi phải cung cấp nhiều dinh dưỡng, nếu bị ăn đói hoặc thiếu chất thì trẻ có thể bị suy dinh dưỡng. Chẳng hạn như sữa mẹ bị thiếu hoặc không có sữ mẹ, sữa bò ăn quá loãng hoặc chỉ ăn cháo hoa, nước cháo… khiến trẻ bị thiếu đạm và chất béo. Đối với trẻ nuôi bằng sữa ngoài hoặc còn đang bú sữa mẹ, nhưng việc cho trẻ ăn thêm không theo một giờ giấc quy định nào, đột ngột cai sữa cũng làm cho trẻ bị suy dinh dưỡng. Ngoài ra, do thói quen ăn uống không tốt, chỉ ăn được ít thứ hoặc ăn linh tinh, lượng ăn vào luôn luôn không đủ trong một thời gian dài… đều có thể dẫn đến suy dinh dưỡng.

Bị ảnh hưởng bởi bệnh tật: Một số bệnh mạn tính như tiêu chảy mạn tính, viêm gan mạn tính, bệnh giun, bị dị tật bẩm sinh (như hẹp môn vị, sứt môi, nứt hàm, bệnh lao…) có thể ảnh hưởng đến khả năng ăn uống và hấp thụ thức ăn của trẻ. Trong một thời gian dài trẻ không thể tiêu hóa được thức ăn hoặc hấp thụ kém các chất dinh dưỡng trẻ sẽ rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng. Trẻ có chức năng sinh lý thấp kém, trẻ sinh đôi, đẻ non… càng dễ dẫn đến suy dinh dưỡng. Ngoài ra nếu gia đình khó khă, điều kiện ăn uống không tốt cũng khiến trẻ bị suy dinh dưỡng.

95. Phòng chữa suy dinh dưỡng cho trẻ như thế nào?

Phòng tránh suy dinh dưỡng ở trẻ, trước tiên phải điều chỉnh chế độ ăn uống. Dù trẻ bị suy dinh dưỡng nặng hay nhẹ, nhưng khả năng tiêu hóa vẫn còn tốt thì có thể cho trẻ ăn những thức ăn dễ tiêu hóa và cho uống một lượng lớn vitamin, cố gắng điều chỉnh sao cho tỷ lệ đường, chất béo và chất đạm đạt tỷ lệ 3:2:1. Mỗi ngày 1kg trọng lượng cơ thể càn 170 – 250 Kcal. Nếu tiêu hóa và hấp thụ tốt, cứ 2 – 3 ngày lại tăng mức ăn lên cho phù hợp. Cho trẻ uống các loại men tiêu hóa theo chỉ dẫn của bác sĩ để tăng cường tiêu hóa, cho uông thêm vitamin B1, B6 và vitamin C… Liệu pháp mát xa cột sống của Đông y cũng có hiệu quả nhất định. Những trẻ bị suy dinh dưỡng quá nặng thì nên cho vào bệnh viện chữa trị.

Để phòng tránh bệnh suy dinh dưỡng ở trẻ, điều chủ yếu là phải bắt đầu cho trẻ ăn uông khoa học ngay từ lúc mới sinh. Trong thời kì trẻ dưới 1 tuổi nên cố gắng tận dụng nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là những trẻ bị sinh non càng cần được nuôi con bằng sữa mẹ. Nếu sữa mẹ không đủ có thể cho ăn thêm sữa ngoài và phải cho ăn đúng giờ. Để trẻ có một chế độ sinh hoạt khoa học hãy uốn nắn những thói quen sinh hoạt khong hay của trẻ, bảo đảm cho trẻ ngủ đủ thời gian, tham gia các hoạt động ngoài trời một cách hợp lý, rèn luyện cơ thể. Như vậy mới làm tăng được khả năng tiêu hóa. Đối với những trẻ suy dinh dưỡng có mắc một số bệnh mạn tính khác nên tích cực chữa trị. Sau khi trừ bỏ được nguyên nhân gây bệnh, tình hình suy dinh dưỡng tự nhiên được cải thiện.

96. Bệnh lị a – míp biểu hiện như thế nào?

Bệnh lị a – míp là bệnh cấp tính đường ruột do khuẩn gây lị gây nên, có thể lây nhiễm. Mùa hạ, mùa thu có tỷ lệ phát bệnh cao nhất. Trẻ nhỏ 2 – 5 tuổi mắc bệnh tương đối nhiều, chủ yếu do uống nước không sạch hoặc ăn phải thức ăn bị ô nhiễm do chế biến không sạch hoặc bị ruồi bậu vào mà phát bệnh. Bệnh lị a – míp thường phát bệnh cấp, phát sốt, nhiệt độ cơ thể lên tới trên 39oC, bụng đau, đi ngoài nhiều lần, trước đi ngoài lỏng, sau đi ngoài ra máu, đi ngoài mỗi ngày từ mười mấy đến mấy mươi lần. Trẻ bị bệnh buồn đi ngoài nhưng đi ngoài ra không nhiều, luôn có cảm giác đi ngoài không hết. Các triệu chứng đi kèm là mệt mỏi toàn thân, chán ăn, buồn nôn. Trẻ nhỏ khi sốt cao dễ bị co giật. tuyệt đại đa số trẻ mắc bệnh đều được điều trị sớm. Sau 5 – 7 ngày, bệnh đều giảm dần và chữa khỏi. Trẻ bị bệnh tương đối nặng, sốt trên 39oC kèm theo các triệu chứng ở hệ thần kinh và hệ tuần hoàn, thích ngủ nhiều, nói lảm nhảm, tinh thần bất an, co giật hoặc hôn mê, thở không đều, mặt tái xanh, tứ chị lạnh, tiểu ít, huyết áp xuống, nhịp tim xuống thấp, đó là bị lị a – míp trúng độc. Nếu không cứu chữa kịp thời có thể nguy hại đến tính mạng.

Trẻ bị lị a – míp nên chú ý nghỉ ngơi, uống nhiều nước, ăn uống những thứ dễ tiêu hóa như canh mì, cháo, bột dinh dưỡng… Không nên ăn uống nhiều sữa bò để tránh trướng bụng. Không được cho uống quá sớm những chất kích thích hoặc chất nhiều xơ bã. Nếu bị bệnh lị a – míp do trúng độc thì phải nhanh chóng đưa đi bệnh viện điều trị.

97. Phòng ngừa bệnh lị a – míp như thế nào?

Để phòng ngừa bệnh lị a – míp cho trẻ các gia đình nên chú ý ba mặt sau:

Một là, khống chế nguồn gốc truyền nhiễm. Đây là mấu chốt của phòng ngừa bệnh tật. Khi phát hiện trẻ bik bạnh lị a – míp nên sớm cách li và tích cực, triệt để chữa trị. Mắc benenhj lị a – míp nhất định phải kiên trì chữa trị từ 7 – 10 ngày cho đến hết các triệu chứng, đại tiện bình thường, để tránh bệnh kéo dài hoặc tái phát. Trẻ bị bệnh không được đại tiện tùy tiện. Phân của trẻ bị bệnh nên dùng nước vôi hoặc bột tầy trắng tiêu độc rồi đổ đi. Trẻ măc bệnh lị a – mip mạn tính nên đến bệnh vện điều trị.

Hai là, ngăn chặn con đường truyền bệnh. Bệnh lị a – míp truyền qua tuyến nước bọt, bởi vậy phải làm tốt công tác vệ sinh cá nhân, tạo thành thói quen vệ sinh tốt, không để nhiễm bệnh. Giáo dục trẻ em rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiện, chịu khó cắt móng tay, không cho trẻ mút tay, không ăn rau sống, không ăn quả xanh, không ăn thức ăn ôi thiu biến chất, không ăn cơm và thức ăn thừa chưa qua xử lý. Đồ đựng thức ăn của người bệnh cần đun sôi khử trùng, áo quần đã mặc cần phơi ra nắng. Các đồ vật đã tiếp xúc như bậc cửa, bàn ghế, đồ chơi… có thể dùng thuốc tiêu độc loại 5% rửa sạch. Ngoài ra, cần làm tốt phong trào vệ sinh, trừ tận gốc nơi ruồi đẻ, diệt ruồi, giữ vệ sinh ăn uống. Như vậy là có thể ngăn chặn được con đường truyền bệnh lị a – míp.

Thứ ba, nâng cao sức miễn dịch. Có thể dùng 30g rau răng ngựa sắc uống để đề phòng bệnh. Mỗi ngày dùng một liều, dùng liền trong 3 ngày hoặc lấy 3 – 6g hoàng bách, sao vàng đun nước uống, mỗi ngày 2 lần. Dùng liền trong 3 ngày sẽ có tác dụng phòng ngừa bệnh lị a – míp.

98. Trẻ bị bệnh giun đũa có biểu hiện gì?

Bệnh giun đũa là căn bệnh ký sinh trùng đường ruột hay mắc nhất ở trẻ em, trẻ ở nông thôn hay mắc hơn. Khi trẻ em ăn các thức ăn như rau xanh, hoa quả chưa rửa sạch lại dính trứng giun đũa hoặc uống nước bị ô nhiễm thì có thể bị nhiễm giun đũa.

Giun đũa sống ký sinh trong đường ruột lúc bình thường không có triệu chứng gì. Có lúc có thể bị đau bụng, chủ yếu đau xung quanh rốn, thường tự nhiên đau, đau trong khoảng thời gian ngắn, lấy tay ấn vào bụng có thể thấy đỡ đau, cũng có lúc có thể cảm thấy hết đau. Nếu giun đũa cuộn thành búi có thể gây tắc nghẽn ở ruột, gây quặn đau từng cơn, đồng thời kèm theo nôn mửa, có thể nôn ra giun đũa. Nếu giun đũa chui vào ống mật, có thể gây ra bệnh giun chui ống mật rất nguy hiểm, gây ra đau bụng trên ở bên phải, đau xoắn ở vùng túi mật. Khi đau trẻ thường hay khóc ầm lên, toàn thân đổ mồ hôi trộn, sắc mặt trắng nhợt. Cơn đau có thể xuyên lên vai phải, thắt lưng và kèm theo nôn mửa, nôn ra nước mật màu xanh vàng. Nếu trẻ bị nhiễm độc giun có thể sẽ có những triệu chứng như: người bứt rứt khó chịu không yên, dễ nổi cáu, ngủ trằn trọc, nghiến răng về đêm, hay tỉnh giấc… Nếu trẻ phản ứng với các độc tố còn có thể nổi mẩn ngứa rất lâu và bị ngứa mũi… Trẻ bị bệnh giun đũa lâu ngày sẽ có nguy cơ suy dinh dưỡng, người gầy, bụng ỏng, thiếu máu, còi cọc do bị giun ăn hết chất dinh dưỡng.

99. Trẻ bị bệnh giun kim có biểu hiện gì?

Bệnh giun kim cũng là một trong những bệnh ký sinh trùng đường ruột mà trẻ hay mắc nhất. trẻ ở độ tuổi từ 2 – 9 tuổi thường bị mắc nhiều nhất. Trẻ bị mắc bệnh giun kim thường hay ngứa lỗ hậu môn và xung quanh hậu môn khiến trẻ khó ngủ, giật mình về đêm hoặc nghiến răng ban đêm. Có lúc do quá ngứa, trẻ gãi xước cả da ở xung quanh hậu môn gây nên viêm nhiễm.

Ở bé gái, nếu giun kim chui sâu vào âm đạo hoặc lỗ niệu đạo có thể làm lỗ niêu đạo bị viêm, gây đi tiểu liên tục, niệu cấp, đi tiểu bị đau… Có lúc do giun lim gây kích thích thành ruột có thể dẫn đến buồn nôn, nôn mửa, đau bụn, tiêu chảy… Nếu khám hậu môn vào ban đêm có thể phát hiện thấy trùng giun nhỏ xíu ở xung quanh hậu môn.

100. Trẻ bị bệnh lồng ruột có biểu hiện gì?

Lồng ruột là một căn bệnh đường ruột của một bộ phận và màng ruột của bộ phận đó lồng vào trong đoạn đường ruột bên cạnh. Bệnh lồng ruột thường có 4 triệu chứng chính sau:

Khóc quấy từng cơn
Do bị đau bụng dữ dội từng cơn khiến trẻ bị lồng ruột khóc quấy từng cơn, tức là trẻ đột nhiên khóc ré lên một lúc khi bị đau bụng dữ dội. Sau đó cơn đau dịu xuống, trẻ lại yên tĩnh như thường, rồi lại quấy khóc khi bụng đau kịch liệt. Lúc trẻ bị đau bụng dữ dội, mặt trẻ trắng bệch, lưng cong ưỡn lên, hay tay nắm chặt, chân co lại, đau đớn hết sức. Nếu thời gian đau bụng kéo dài, trẻ sẽ bớt khóc đi, chỉ có nét mặt trắng bệch, quẫy đạp lung tung.

Nôn mửa
Sau khi khóc quẫy khó chịu thì trẻ bị nôn mửa, lúc đầu trẻ trớ ra sữa, những cục sữa không tiêu hóa được và cặn thức ăn, rồi nôn ra dịch gan (màu xanh vàng) vào giai đoạn cuối của bệnh thì nôn ra loại dịch thể dạng phân.
Đi ngoài ra máu
Phân của trẻ bị lồng ruột có thể có chất nhầy giống như “hoa quả nghiền” hoặc có máu màu đỏ sẫm. Trẻ thường đi ra máu sau 4 – 12 tiếng đồng hồ bị lồng ruột.

Bụng nổi cục
Khi trẻ nằm yên, lấy tay sờ vào dưới mép sườn chỗ bụng trên ở bên phải hoặc phía trên rốn, có thể sờ thấy có cục nổi lên, trơn nhẵn mà không cứng lắm, có thể di động.
Nếu thấy xuất hiện 4 triệu chứng trên trong khoảng 1 – 2 tiếng đồng hồ thì phải đưa trẻ đến bệnh viện cấp cứu ngay, nếu bị lồng ruột quá lâu sẽ làm cho ruột bị hoại tử, gây nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.

…(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *