833 lượt xem

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA MARIE ĐỆ NHẤT

“QUỐC VƯƠNG” XỨ SEDANG
PHẦN 2 – HÀNH TRÌNH LÊN CAO NGUYÊN – DUYÊN MAY TÌM ĐẾN
(Xin lưu ý: những nhận xét về đời sống, phong tục, tập quán của đồng bào thiểu số trên Tây Nguyên như Bahnar, Djarai, Sedang … là của riêng tác giả Maurice Soulié, có thể khác biệt hay mâu thuẫn với những tư liệu phổ biến đồng thời hay về sau này)
De Mayréna khởi hành lên Tây nguyên vào khoảng tháng 3.1888. Cùng đi với y có người vợ Chăm Ahnaia, người bạn thân thiết Mercurol, một người Tàu đại diện cho nhóm bảo trợ, tất nhiên là có cả 8 người hộ vệ do toàn quyền Constans cung cấp. Khi tàu Le Requin ghé lại Bình Định, họ lên bờ đến thẳng tòa công sứ Bình Định. Công sứ Lemire đón tiếp họ với sự dễ mến cố hữu, sắp xếp cho họ nghỉ tạm và cho hai cô con gái khả ái chăm sóc Ahnaia. Ngày hôm ấy, cũng tại tòa công sứ, de Mayréna và các bạn đồng hành được Lemire giới thiệu với tổng đốc Bình Định, một quan lại cao cấp của triều đình Việt Nam.
Ngày hôm sau, y đến yết kiến giám mục Van Camelbecke, người lãnh đạo Hội truyền giáo tại đây, và nhờ ông viết thư giới thiệu với các linh mục đang truyền đạo trên cao nguyên. Bằng hai lá thư viết vào những ngày 24.3.1888 và 7.4.1888, vị giám mục đề nghị giáo sĩ Vialetton, người lãnh đạo đoàn truyền giáo trong lãnh địa của người Bahnar, tạo điều kiện thuận lợi cho de Mayréna hoàn thành sứ mạng được toàn quyền Constans giao phó. Động thái này khiến de Mayréna cảm thấy phấn khởi, song Mercurol lại bất an, vì trong thư, giám mục Van Camelbecke không nhắc gì đến bộ tộc Djarai vốn có những hoạt động “cứng rắn” trong vùng như thường tấn công các đoàn công-voa (convoi) từ Qui Nhơn lên, cướp lấy hàng hóa…
Sau những ngày ở tạm Qui Nhơn, de Mayréna và các bạn đồng hành được công sứ Lemire lo chu đáo, cung cấp ngựa (cho de Mayréna, Mercurol), võng (cho Ahnaia), 10 anh lính An Nam và 12 phu khuân vác. Họ khởi hành đi Kon-Tum, vượt qua những khu rừng đầy thú dữ, phải vừa đi vừa phát quang những lùm bụi um tùm. Buổi chiều, họ ghé lại làng An Khê là ranh giới giữa Bình Định và vùng cao nguyên còn nằm ngoài vùng kiểm soát của chính quyền Pháp và triều đình Huế. Phiên chợ chung của người miền xuôi và người miền ngược đang diễn ra, lần đầu tiên de Mayréna nhìn thấy tận mắt những đồng bào thiểu số với cách ăn mặc và sinh hoạt không giống người Sài Gòn mà y đang chung sống. Họ mang bầu bí, lúa gạo, thuốc lá, nhựa cây, mật ong, sáp ong, sừng tê giác… xuống chợ An Khê đổi lấy muối, đồ đất nung, cồng, đồ thủy tinh châu Âu, thiếc …

Họ tiếp tục đi đến một địa danh có tên Thạch Bàn thì đã gặp cha Guerlach chờ sẵn. Bốn giờ chiều, họ lên đường đi Kon-Tum, nghỉ đêm tại một làng Công giáo của người Việt và đến sáng sớm thì thị trấn Kon-Tum đã hiện ra trước mắt họ. Họ nhìn thấy những người đàn ông ngậm tẩu thuốc lá trên môi đi quan sát những cánh đồng lúa xanh ngát, những phụ nữ quấn quanh người những tấm khăn choàng nhiều màu sặc sỡ để chống lại cái lạnh của núi rừng còn vương vất khi mặt trời chưa kịp lên cao. Nhận ra cha Guerlach, một đoàn người Bahnar đến tung hô ông, la hét, vung gươm nhảy múa như lúc xung trận. Sau đó, mọi người cùng kéo đến nhà rông, de Mayréna, Mercurol và cha Guerlach ngồi trên những chiêc chiếu trải sẵn, Ahnaia chìm khuất trong đám con gái đang chăm chú nhìn ngắm cô với vẻ hiếu kỳ.
Sáng sớm hôm sau, de Mayréna cùng giáo sĩ Guerlach và Mercurol bắt đầu thực hiện chuyến đi vào các buôn làng trong kế hoạch thành lập một liên minh các bộ tộc ở đây. Trước tiên, họ đến buôn Kon-Tran, nơi ở của giáo sĩ Irigoyen. Cuộc đón tiếp cũng nồng hậu như ở Kon-Tum, nhờ sự thuyết phục từ trước, vị buôn trưởng bày tỏ ý muốn gia nhập Liên minh dân tộc Bahnar. Sự thành công vượt quá mong ước của de Mayréna, ngày hôm sau, và những ngày sau nữa, các buôn Kon-Meney, Kon-Kepet, Kon-Djeri, Kon-Klah, Kon-Diah … cũng theo chân Kon-Chan. De Mayréna được chính thức thừa nhận là “Tomul-Tom”, tức chủ tịch của Liên minh người dân tộc Bahnar. Y cùng hai giáo sĩ Guerlach và Vialleton bàn bạc, soạn thảo bản qui chế của liên minh, nội dung gồm 14 điều khoản, trong đó dành cho Tomul-Tom, tức de Mayréna, nhiều quyền hạn rộng rãi như: đề cử Hội đồng Tư vấn, bổ nhiệm Bộ trưởng, lấy Thiên chúa giáo làm tôn giáo chính thức, song không ai có thể bị quấy nhiễu vì lý do tôn giáo. Tên chính thức của liên minh là “Liên minh Bahnar-Rongao”, lá cờ của liên minh có màu đỏ, đính 5 ngôi sao trắng, 4 ngôi sao ở góc, một ngôi sao ở trung tâm. Tomul-Tom được công nhận suốt đời, song có quyền chỉ định người kế nhiệm. Ông ta chỉ huy quân đội của liên minh và bổ nhiệm các sĩ quan, chỉ có ông ta mới được quyết định vấn đề chiến tranh hay hòa bình, liên minh với các lực lượng khác.
Với sự ra đời của Liên minh Bahnar-Rongao và địa vị cao nhất mà người Bahnar dành cho de Mayréna, xem như mọi vấn đề đối với bộ tộc này đã được giải quyết. Người Bahnar sống hiền hòa, sợ thần linh, thờ cúng người chết vì sợ bị linh hồn người chết về phá phách. Họ ưa thích các giáo sĩ Pháp, vì thấy những người này có thực tâm muốn giúp họ cải thiện đời sống. Như vậy, với bộ tộc Bahnar mọi chuyện đều suôn sẻ. Song với hai bộ tộc chính còn lại là Djarai và Sedang, vấn đề không dễ dàng như vậy. Khác với những buôn kể trên của bộ tộc Bahnar, đến lúc ấy, các giáo sĩ phương Tây chưa tiếp cận được các buôn của người Sedang ở phía bắc Kon-Tum, chia cách với khu vực của người Bahnar bởi con sông Pékau. Bộ tộc này rất thiện chiến, có những cách ứng xử đáng ngại đối với những ai từ xa tới. Họ có biệt tài phóng lao, sử dụng khiên hình bầu dục, an táng người chết trên những cánh đồng trống trải, không rào giậu bao quanh, quan tài là những thân cây khoét rỗng. Họ trồng lúa theo cách riêng, cứ mỗi ba năm đốt một khoảnh rừng, phát quang, dùng gậy chọc những lỗ nhỏ trên đất và bỏ hạt lúa giống vào. Một rẫy như vậy cung cấp cho họ số thóc đủ dùng trong ba năm, sau đó họ lại đốt một khoảnh rừng khác để khai thác phần đất màu mỡ mới. Tuy nhiên, họ có nhiều ưu thế hơn các bộ tộc khác về lãnh vực công nghiệp, khi có điều kiện khai thác quặng sắt sẵn có trong vùng núi họ ở, nhờ vậy, họ có thể tự rèn lấy dao, rựa, các loại vũ khí để tự vệ hay giải quyết bất đồng với các bộ tộc khác.
Để có thể tiến hành những bước thăm dò đầu tiên trên lãnh địa của người Sedang, de Mayréna phải nhờ đến giáo sĩ Irigoyen là người nói sỏi ngôn ngữ của bộ tộc này. Sau khi vượt sông Pékau, họ đến buôn Kon-Djeri ở cách sông vài cây số nhưng được biết đang có lệnh cấm người lạ vào buôn, nếu bất tuân sẽ bị xử tử. Loại lệnh cấm này được áp dụng rất chặt chẽ và thường xuất phát từ một biến chuyển bất thường đang xảy ra trong buôn như sinh, tử, hôn nhân… Vào những dịp này, họ thực hiện những nghi thức mà người bên ngoài buôn không được phép chứng kiến. Lệnh cấm được thể hiện bằng những dấu hiệu khắc trên thân cây hoặc bằng những khúc tre kết thành hình thoi. Phản ứng của người Sedang khi có người lạ xâm nhập vào buôn của họ là những phát tên bắn tới tấp vào những kẻ không mời mà đến. Phát hiện những dấu hiệu của lệnh cấm xâm nhập buôn Kon-Djeri, de Mayréna và giáo sĩ Irigoyen vội quay về.
Mấy ngày sau, họ cùng Mercurol tìm đến buôn Pelei-Maria, nơi mà cha Irigoyen đã liên lạc từ trước và được người buôn trưởng tên Liêu thuận tình tiếp xúc. De Mayréna mặc bộ quần áo đại lễ, tay cầm thanh gươm quý, Mercurol thì mặc trang phục màu đỏ. Hôm đó trời mưa như thác đổ, rừng cây rung chuyển từng hồi, nhưng khi họ đặt chân đến nhà rông thì nơi đây đã đông chật người. Tất cả các buôn trưởng người Sedang đều có mặt theo lời mời của Liêu để cùng quyết định về những đề nghị của de Mayréna do cha Irigoyen chuyển đến họ. Họ được tiếp đón bằng một sự im lặng nặng nề khiến một người từng trải như de Mayréna cũng thấy chột dạ. Cha Irigoyen lên tiếng mở đầu buổi gặp mặt, nhắc lại những gì đã thỏa thuận với buôn trưởng Liêu. Khi ông vừa kết thúc phần trình bày, một số người Sedang khạc nhổ xuống đất, theo tập tục lúc bấy giờ là họ đồng tình với những gì ông phát biểu. Tới phiên mình, de Mayréna dọn sẵn một bộ mặt thân thiện, bày tỏ sự ngưỡng phục đốivới dân tộc Sedang và mong được cống hiến tài sức cho hạnh phúc của họ. Khi cha Irigoyen dịch xong những lời nói trên, số người khạc nhổ xuống đất nhiều hơn trước. Sau màn uống rượu cần khiến cả chủ lẫn khách đã ngà ngà say, các binh sĩ người Sedang mời các vị khách phương xa thưởng thức màn múa gươm thể hiện sức mạnh của bộ tộc. Tiếng cồng chiêng vang xa cả một góc rừng. Hai buôn trưởng, Liêu của buôn Pelei-Maria, và Tiam của buôn Kon-Ketou, cầm gươm đứng dậy, nhìn nhau thăm dò, miệng thốt lên những âm thanh xen lẫn với tiếng nhạc. Cuối cùng, điệu nhạc trở nên dồn dập, cả hai nhảy xổ vào nhau. Chỉ sau mấy chiêu, Liêu bị thương nhẹ ở cánh tay phải, máu càng làm cho Tiam hăng lên. Tuy nhiên, Liêu sớm giành lại ưu thế và đánh văng gươm của Tiam. Anh này hét lên một tiếng điên cuồng, chụp một ngọn giáo định nhảy tới đâm Liêu, nhưng đám đông can thiệp kịp. Tiam xấu hổ lẫn vào đám đông ở cuối nhà rông. De Mayréna ngồi xem trận đấu, máu liều trộn thêm hơi rượu đẩy anh ta đứng phắt dậy, rút soạt gươm ra. Đang say men chiến thắng, buôn trưởng Liêu cũng bước tới. Cả cha Irigoyen lẫn Mercurol giật mình kinh hãi, nhưng không còn kịp nữa, hai thanh gươm đã chạm nhau rồi! Cũng may mà cuộc so gươm không hẹn trước chỉ diễn ra thật ngắn ngủi. Chỉ sau mấy đường gươm trao đổi, de Mayréna đã đánh văng gươm của Liêu ra xa mấy thước. Anh này cũng như Tiam, xấu hổ, chạy vội xuống cuối nhà rông. Kẻ chiến thắng chưa kịp biểu lộ sự hãnh diện thì bầu không khí nhà rông bỗng nhiên đổi khác. Các binh sĩ Sedang đứng cả dậy, mắt long lên sòng sọc, báo hiệu một điềm chẳng lành. Cha Irigoyen xanh cả mặt, song bậc anh hùng bất đắc dĩ là de Mayréna không hề tỏ ra nao núng. Y nhờ cha thông dịch cho mọi người trong nhà rông là xin đừng bực mình về chuyện đã qua, vì y có được ân sủng đặc biệt của thần chiến tranh (!). Câu nói của y khiến một số gương mặt dịu lại, nhưng vẩn còn nhiều người, trong đó có buôn trưởng Pelei-Tabor, tỏ ra không tin. Biết “đối phương” bắt đầu chột dạ, y nhờ cha Irigoyen bồi thêm câu nói dài dòng sau: “để chứng tỏ cho các bạn biết là tôi được thần linh che chở, tôi đứng trước các bạn đây, ở khoảng cách tùy các bạn lựa chọn, và tôi yên lặng chờ các bạn phóng ngọn giáo vào giữa ngực tôi. Tôi chỉ có thể nói trước với các bạn rằng thần linh sẽ không để những ngọn giáo đó chạm vào ngực tôi, mà chúng sẽ quay lại đâm vào các bạn (!)”
Trong lúc cha Irigoyen phiên dịch những lời ngang tàng và khoác lác đó, de Mayréna bình thản lấy thuốc lá ra châm hút. Một phút trôi qua dài như một tháng, các buôn trưởng xúm vào nhau, bàn bạc. Rồi bất thình lình, buôn trưởng Liêu tiến đến trước mặt de Mayréna, nhờ cha Irigoyen phiên dịch như sau: “chúng tôi thấy rằng chính ông là đấng cứu thế mà người Sedang chờ đợi từ nhiều thế kỷ qua. Chính ông đã được thần linh cử đến. Chúng tôi muốn ông là “Agna” tức là quốc vương của chúng tôi”.

Rồi không đợi cho de Mayréna và hai người đồng hành kịp phản ứng, Liêu cùng các buôn trưởng khác đã chạy lại, xúm quanh vị ‘quốc vương” và thề trung thành với “ngài” bằng cách giết một con gà mái, lấy máu bôi lên trán de Mayréna. Buổi lễ đăng quang đơn giản kết thúc, các buôn trưởng quay về buôn của họ, còn cha Irigoyen và Mercurol thì hộ tống “tân quốc vương Sedang” trở về Kon-tum
(còn tiếp)
Lê Nguyễn
31.5.2017

33 thoughts on “CUỘC PHIÊU LƯU CỦA MARIE ĐỆ NHẤT

    • Vam Cong says:

      Thích và thấy vui,lạ ở phong tục nầy:”Cha Irigoyen lên tiếng mở đầu buổi gặp mặt, nhắc lại những gì đã thỏa thuận với buôn trưởng Liêu. Khi ông vừa kết thúc phần trình bày, một số người Sedang khạc nhổ xuống đất, theo tập tục lúc bấy giờ là họ đồng tình với những gì ông phát biểu…”. .và ..”số người khạc nhổ xuống đất nhiều hơn trước” ( là họ càng đồng tinh nhiều hơn )

  1. Hoa Ngoc says:

    Anh Lê Nguyễn, qua bài viết này, em biết thêm được một vài phong tục tập quán của đồng bào thiểu số ở Tây Nguyên. Em tin rằng những tình tiết trong câu chuyện hôm nay sẽ dẫn đến nhiều kịch tính thú vị về sau <3

  2. Tran Hoang says:

    Đúng như dự đoán của em, phần kế tiếp thật thú vị, phải nín thở mà đọc ở đoạn de Mayréna đã rất dũng cảm và mưu trí để chinh phục các buôn trưởng, cảm ơn anh!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *