• Trang chủ
  • Khác
  • KIẾN THỨC DINH DƯỠNG CẦN BIẾT TRƯỚC KHI MANG THAI (P1)
26 lượt xem

KIẾN THỨC DINH DƯỠNG CẦN BIẾT TRƯỚC KHI MANG THAI (P1)

I. NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

  1. Các chất dinh dưỡng phụ nữ mang thai cần bổ sung

Để duy trì quá trình trao đổi chất diễn ra một cách bình thường, cơ thể cần phải hấp thụ nhiều chất dinh dưỡng từ thức ăn. Trong dinh dưỡng học, những chất dinh dưỡng này được chia thành 6 loại cơ bản là: protein, chất béo, đường, vitamin, khoáng chất và nước.

Protein

Protein là chất cơ bản cấu tạo nên tế bào cơ thể. Hàm lượng của nó trong cơ thể chỉ đứng sau nước. Quá trình sinh trưởng và phát triển của cơ thể, sự đổi mới của các cơ quan, đều cần thiết phải có protein làm nguyên liệu. Protein là thành phần cấu thành nên enzim, hormon, kháng thể và huyết sắc tố. Nó tham gia vào rất nhiều chức năng trong cơ thể như: Điều tiết nồng độ pH trong dịch thể acid, vận chuyển rất nhiều loại chất khác… Nếu như nhiệt năng của cơ thể cung cấp không đủ, nó có thể tiêu hủy một bộ phận để sản xuất ra nhiệt lượng. . .

Những thực phẩm có nhiều protein như: Thịt, trứng, cá, sữa, đậu, lạc, vừng và ngũ cốc.

Chất béo

Chất béo là nguồn gốc của nhiệt lượng, trong đó mỡ phốt-pho là chất không thể thiếu trong quá trình phát triển tế bào não của thai nhi, giữ vai trò là chất dẫn truyền năng lượng. Nó làm tăng khả năng tan của vitamin A, vitamin C, vitamin E, vitamin K cũng như khả năng hấp thụ những vitamin này của cơ thể. Acid béo không bão hòa trong chất béo có tác dụng điều tiết chức năng sinh lý của cơ thể. Ngoài ra, còn có thể làm giảm nồng độ cholesterol trong máu, ngăn ngừa chứng bệnh xơ vữa động mạch. Khi chế biến thức ăn nếu cho thêm một lượng chất béo nhất định có thể làm thức ăn thêm thơm ngon, kích thích cảm giác thèm ăn của con người. Chất béo có nhiều trong các loại thực phẩm như: Mỡ động vật, dầu thực vật và các loại quả hạt cứng

Đường

Đường là thành phần lớn nhất trong các loại thức ăn của con người, là chất có thể trực tiếp sản sinh ra nhiệt lượng. Dựa vào cấu tạo đường có thể phân thành 3 loại: Đường đơn (đường glucose, đường quả); đường đa (đường mía, đường sữa, đường mạch nha). Đường có thể kết hợp chất béo tạo thành hợp chất đường, chất béo, tham gia cấu tạo hệ thần kinh và mô tế bào. Đường cũng có thể kết hợp với protein tạo thành chất đường, protein như enzim, hormon. Đường có thể tăng khả năng bài tiết chất độc, giảm khả năng phát sinh những bệnh liên quan đến chất độc và bệnh đường ruột. Nếu như lượng đường trong cơ thể được cung cấp đầy đủ có thể làm giảm khả năng tiêu hao protein. Sự trao đổi chất của thai nhi cần phải có đường glucose, nếu như cung cấp không đủ, cơ thể người mẹ có thể tiêu hao một lượng lớn chất béo và protein để bổ sung. Nếu như chất béo được đưa đến một cách quá nhanh có thể sản sinh ra axêton (R2CO) dẫn đến trúng độc axêton, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thần kinh và não của thai nhi. Đường chủ yếu tồn tại trong ngũ cốc, rau và hoa quả.

Vitamin

Vitamin là chất dinh dưỡng có vai trò duy trì sự tồn tại của cơ thể, thúc đẩy sự tăng trưởng, tăng cường sức đề kháng và chức năng sinh lý của cơ thể. Tuy hàm lượng các vitamin trong cơ thể chỉ chiếm một phần rất nhỏ nhưng nếu thiếu có thể dẫn đến nhiều căn bệnh khác nhau. Căn cứ vào tính tan vitamin được chia thành 2 loại: Vitamin tan trong mỡ và vitamin tan trong nước. Dưới đây giới thiệu một số loại vitamin có ảnh hưởng tương đối lớn đối với phụ nữ mang thai.

  • Vitamin A: Vitamin A là loại vitamin tan trong mỡ. Chức năng chủ yếu của nó là thúc đẩy sinh trưởng, tăng cường khả năng miễn dịch, duy trì thị lực bình thường của cơ thể cũng như thúc đẩy khả năng sinh sản.
  • Quá trình sinh trưởng, phát triển của các cơ quan trong cơ thể thai nhi và người mẹ đều cần có vitamin A. Nếu như thiếu vitamin A, dẫn tới sinh non, bào thai phát triển không toàn diện, cũng có thể dẫn đến bệnh quáng gà ở thời kỳ mang thai. Nhưng nếu thừa vitamin A cũng có thể làm cho thai bị dị hình. Vì vậy, cần phải cung cấp vitamin A một cách hợp lý.
  • Vitamin D: Vitamin D là vitamin tan trong mỡ. Chức năng chủ yếu của nó là thúc đẩy sự tăng trưởng của răng và kết cấu xương khớp, điều tiết quá trình trao đổi của phốt-pho, canxi. Nếu như thiếu vitamin D có thể dẫn tới bệnh loãng xương, nghiêm trọng có thể dẫn tới bệnh dị hình ở xương, ảnh hưởng tới khả năng sinh đẻ sau này.
  • Những thực phẩm có nhiều Vitamin D gồm: Gan, động vật, dầu gan cá, trứng cá.
  • Vitamin C: Vitamin C có tính acid, gặp nhiệt, kiềm hay một số kim loại có thể bị biến chất. Vì vậy, khi chế biến rất dễ làm thất thoát Vitamin C. Vitamin C có nhiều chức năng trong quá trình bài tiết của cơ thể như: Thúc đẩy hình thành chất keo dính giữa các tế bào, quá trình tái sinh của chất dịch, quá trình vôi hóa của bộ xương, răng…Phụ nữ khi mang thai nếu thiếu Vitamin C có thể mắc bệnh ung thư máu, viêm lợi, long chân răng, loãng xương, khả năng miễn dịch của cơ thể giảm sút, thai nhi phát triển không tốt, khi sinh có thể dẫn tới băng huyết…
  • Vitamin C có nhiều trong rau tươi và hoa quả.
  • Vitamin E: Vitamin E là vitamin tan trong mỡ. Chức năng chủ yếu của nó là duy trì khả năng sinh đẻ bình thường, kết cấu của cơ tim, cơ trơn cũng như hệ tuần hoàn. Vitamin E có tác dụng ngăn ngừa quá trình oxy hoá, ngăn sự lắng đọng của chất béo. Đối với phụ nữ mang thai, vitamin E có tác dụng bảo vệ thai nhi cũng như ngăn chặn nguy cơ sinh non, sẩy thai.
  • Những thực phẩm có nhiều vitamin E gồm: Dầu hạt cải, sữa bò, trứng, ngũ cốc, thịt, cá, rau xanh.
  • Vitamin K:
  • Vitamin K là loại vitamin tan trong nước. Chức năng chủ yếu của nó là tăng cường sự đông máu. Phụ nữ mang thai nếu thiếu vitamin K có thể dẫn đến sẩy thai.
  • Những thực phẩm có nhiều vitamin K gồm: Xương sườn, rau chân vịt, cải bắp…
  • Vitamin nhóm B:
  • Vitamin nhóm B là loại vitamin tan trong nước, trong đó một số vitamin quan trọng gồm: Vitamin B1, vitamin B2, vitamin B6, vitamin B12.
  • Vitamin B1 có tác dụng chủ yếu là thúc đẩy quá trình trao đổi chất bình thường của cơ thể, tăng cảm giác thèm ăn, hỗ trợ cho quá trình tiêu hóa, hấp thu chất dinh dưỡng, ngăn ngừa bệnh táo bón, tăng cường sự tiết sữa của tuyến sữa. Nếu thiếu vitamin B1 có thể dẫn đến bệnh tê phù, rối loạn nhịp tim, sinh non..
  • Vitamin B2 có tác dụng tăng cường quá trình sinh trưởng phát dục, quá trình tiết sữa, bảo vệ các niêm mạc da, lưỡi miệng. Nếu thiếu vitamin B2 có thể dẫn tới các chứng bệnh viêm lưỡi, môi, miệng, da, viêm giác mạc và đục thủy tinh thể, cũng có thể khiến cho bào thai phát triển không toàn diện.
  • Những thực phẩm có nhiều vitamin B2 gồm: Ngũ cốc, thịt, gan động vật, trứng, đậu, rau xanh.
  • Vitamin B6 có tác dụng hỗ trợ điều trị chứng gan nhiễm mỡ. Nó cũng có thể ngăn ngừa một số bệnh về răng ở phụ nữ mang thai. Thiếu vitamin B6 có thể dẫn đến bệnh viêm da, thiếu máu, rối loạn chức năng gan.
  • Những thực phẩm có nhiều vitamin B6 gồm: Ngũ cốc, gan, thận động vật, sữa bò, thịt, trứng, rau.
  • Vitamin B12: Trong vitamin B12 có thành phần cacbon. Tác dụng của vitamin B12 là thúc đẩy quá trình phân tách của hồng cầu, hỗ trợ điều trị chứng gan nhiễm mỡ, thúc đẩy quá trình tích trữ của vitamin A trong gan. Phụ nữ thời kỳ mang thai nếu không được cung cấp đủ vitamin B12 cơ thể người mẹ và thai nhi đều có thể mắc chứng bệnh thiếu máu.
  • Vitamin B12 có nhiều trong gan thận động vật, thịt nạc, trứng, sữa.

(Còn tiếp)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *