• Trang chủ
  • Khác
  • KIẾN THỨC DINH DƯỠNG CẦN BIẾT TRƯỚC KHI MANG THAI (Phần cuối)
19 lượt xem

KIẾN THỨC DINH DƯỠNG CẦN BIẾT TRƯỚC KHI MANG THAI (Phần cuối)

II. LƯU Ý TRONG VIỆC BỔ SUNG KHOÁNG CHẤT CẦN THIẾT TRƯỚC KHI MANG THAI

1. Thời gian phù hợp bổ sung vitamin B11 trước khi mang thai

Bổ sung vitamin B11 để đạt tới hàm lượng lý tưởng cần được tích lũy trong một khoảng thời gian. Để chuẩn bị mọi mặt cho quá trình sinh đẻ, các chuyên gia thường khuyến nghị những phụ nữ chuẩn bị mang thai nên bắt đầu bổ sung vitamin B11 từ trước. Như vậy, nếu các cặp vợ chồng trẻ có kế hoạch mang thai thì có thể bắt đầu bổ sung vitamin B11 ngay cho đến khi mang thai được 3 tháng.

2. Vai trò và liều lượng bổ sung hợp lý hàm lượng vitamin B11

Bổ sung vitamin B11 ngay từ trước khi mang thai đóng vai trò rất quan trọng, có thể phòng tránh hiện tượng thai nhi dị thường, các tình trạng xuất huyết, sảy thai, sinh non, tránh tật bẩm sinh, giảm nguy cơ thiểu năng trí tuệ và thai nhi tử vong khi sinh. Theo nghiên cứu chứng minh, khoảng 1/3 phụ nữ mang thai do thiếu vitamin B11 dẫn đến thiếu máu, đặc biệt là những phụ nữ mang thai sinh đôi và 80% những bà mẹ đều do thiếu vitamin B11 dẫn đến triệu chứng thiếu máu. Chính vì vậy, trước khi mang thai cần phải bổ sung vitamin B11. Có thể bổ sung thông qua thức ăn hoặc sử dụng các loại thuốc. Nếu muốn bổ sung vitamin B1 có thể ăn các loại hoa quả chứa hàm lượng vitamin B1 cao như: Đào, quả anh đào, nho, kê, hạnh nhân, khế, sơn tra, táo chua, lựu, cam, kiwi, dâu tây…

Hiện nay, trên thị trường có bán các loại thuốc bổ sung vitamin B11 bao gồm 2 loại liều lượng như sau: Một loại 5mg/viên và một loại 0,4mg/viên. Loại thứ hai là liều lượng bổ sung mỗi ngày cho phụ nữ chuẩn bị mang thai, nếu không xuất hiện hiện tượng bất thường thì mỗi ngày uống 0,4mg vitamin B11 là có thể đảm bảo nhu cầu vitamin B11 cơ bản sau khi mang thai. Loại thứ nhất là vitamin B11 dạng thuốc. Nếu kiểm tra phát hiện thấy triệu chứng thiếu máu có thể dùng thuốc dưới sự chỉ định của bác sỹ. Nhìn chung, thông qua thuốc bổ sung vitamin B11, các chuyên gia khuyến nghị mỗi ngày trước khi mang thai nên bổ sung 0,4mg, trong thời kỳ mang thai cần 0,8mg, những phụ nữ đã từng sinh con hoặc mắc bệnh thiếu máu lâu ngày nên tăng liều lượng lên 0,2 – 0,4mg.

3. Vai trò của vitamin nhóm B đối với phụ nữ trước khi mang thai

Trong kiểm nghiệm lâm sàng, phụ nữ thiếu các vitamin nhóm B sau khi mang thai rất dễ xuất hiện hiện tượng buồn nôn, chân tay nổi gân, căng thẳng, run rẩy, ù tai, tê buốt ngón tay, mất ngủ, hay cáu bẳn, miệng hôi, căng tức bụng dưới, thiếu máu, phù thũng, xuất huyết, ngứa rát ngoài âm đạo… Đồng thời, nghiên cứu còn chứng minh, phụ nữ trước khi mang thai nếu uống các vitamin nhóm B khoảng trên 1 tháng thì tỷ lệ phát sinh các khuyết tật cho thai nhi sẽ giảm khoảng 50%, đặc biệt là giảm các khuyết tật về hệ thần kinh. Vì thế, trước khi mang thai 1 – 2 tháng, mỗi ngày nên uống 10mg các vitamin nhóm B để phòng tránh các triệu chứng nêu trên, đồng thời tránh các tổn thương cho trẻ trong tương lai. Các loại thực phẩm có chứa nhiều vitamin nhóm B bao gồm: Rau xanh, gan động vật, thịt, trứng, sữa bò và các loại hoa quả như: Cam, dâu tây…

4. Vai trò của thực phẩm giàu canxi đối với phụ nữ trước khi mang thai

Đối với phụ nữ trong độ tuổi mang thai, trước khi mang thai cần dự trữ canxi cần thiết cho quá trình mang thai. Vì khi mang thai cơ thể người mẹ cần lượng canxi lớn hơn rất nhiều so với bình thường, nếu trước khi mang thai không dự trữ đầy đủ canxi có thể gây ra các chứng bệnh do thiếu canxi ở trẻ như: Bệnh còi xương, bệnh co giật. Vì vậy, những người phụ nữ có kế hoạch mang thai cần dự trữ canxi cho cơ thể ngay từ trước khi mang thai, ăn nhiều các loại thực phẩm chứa canxi như: Cá, sữa, rau xanh…

5. Vai trò của sắt, kẽm và muối i-ốt đối với phụ nữ trước khi mang thai

Vai trò của sắt

Phụ nữ trước khi mang thai nên bắt đầu bổ sung các loại thực phẩm chứa nhiều sắt, vì sắt là thành phần quan trọng tạo nên huyết sắc tố, nếu thiếu sắt sẽ gây thiếu máu. Đó cũng chính là bước chuẩn bị đầy đủ hàm lượng sắt cần thiết cho thai nhi và cho người mẹ mang thai. Do trong thời gian mang thai lượng máu cần thiết nhiều gấp 30% so với bình thường, đồng thời do tốc độ phát triển của thai nhi nên mỗi ngày cần hấp thu khoảng 5mg sắt. Nếu không được bổ sung đầy đủ sắt trước khi mang thai sẽ dẫn đến hiện tượng thiếu sắt, ảnh hưởng đến cả quá trình sinh đẻ. Đặc biệt trong giai đoạn cuối thai kỳ dễ xuất hiện triệu chứng thiếu máu, ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi. Vì vậy, trước khi mang thai người phụ nữ cần ăn nhiều thực phẩm chứa sắt để đảm bảo hấp thu đầy đủ sắt cho cơ thể. Có thể thông qua các loại thực phẩm như: Thịt lợn, trứng gà, sữa bò, đậu tương…, cũng có thể sử dụng nồi sắt để xào nấu thức ăn nhằm tăng cường bổ sung chất sắt.

Vai trò của kẽm

Kẽm là thành phần quan trọng của nhiều loại men cần thiết cho các phản ứng sinh học trong cơ thể, nó có ảnh hưởng vô cùng to lớn trong hoạt động trao đổi chất. Thai phụ nếu thiếu kẽm khiến thai nhi phát triển chậm, cơ thể thấp lùn, thậm chí gây ra hiện tượng thai dị hình.
Ngoài ra, do thiếu kẽm cũng sẽ làm giảm cảm giác thèm ăn gây ra hiện tượng hấp thu kém các chất dinh dưỡng cho người mẹ mang thai, ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển của thai nhi. Do đó, trước khi chuẩn bị mang thai, người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cần bắt đầu bổ sung đầy đủ hàm lượng kẽm giúp ích cho sự hình thành và phát triển của thai nhi sau này.

Vai trò của muối i-ốt

Thời kỳ bổ sung muối i-ốt tốt nhất cho thai phụ là ngay từ trước khi mang thai hoặc thời kỳ đầu mang thai. Muối i-ốt là một trong những thành phần quan trong để cấu thành tuyến giáp, là một kích thích tố ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất bên trong cơ thể. Thời kỳ mang thai nếu thiếu i-ốt sẽ ảnh hưởng đến sự trao đổi chất giữa cơ thể mẹ và thai nhi, đặc biệt là sự cấu thành protein. Đồng thời, nếu thiếu muối i-ốt trong thời kỳ mang thai trực tiếp gây ra hiện tượng giảm sút trí lực, gây câm điếc, thậm chí phát sinh nhiều trở ngại cho khả năng vận động và khả năng ngôn ngữ của trẻ. Chính vì thế, các chuyên gia khuyến nghị, trước khi mang thai cần tiến hành bổ sung lượng muối i-ốt đầy đủ, mỗi ngày nên hấp thu khoảng 150g.
Muối i-ốt có thể được hấp thụ qua các loại thực phẩm như: Rong biển, tảo biển… Nhưng cần chú ý, do rong biển có chứa hàm lượng muối i-ốt khá cao, nếu ăn quá nhiều sẽ gây ngộ độc, vì thế khi ăn rong biển cần lưu ý. Biện pháp tốt nhất là ngâm rong biển trong vòng 24 giờ trong nước sạch rồi mới chế biến.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *